Thấp thỏm lạm phát cuối năm

Chí Tín
(TBTCVN) - Một số dấu hiệu giá cả đặt ra mối lo ngại lạm phát có thể gia tăng vào cuối năm. Nhưng giới chuyên gia và cơ quan quản lý cho rằng vẫn có thể có những giải pháp để “ghìm cương” lạm phát. giá cả thực phẩm trên thế giới gia tăng cũng đang gây ra ảnh hưởng lên lạm phát tại Việt Nam.
aa

11

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước.

Bấp bênh lạm phát

Diễn biến thị trường thép những ngày gần đây cho thấy, giá cả mặt hàng này có phần hạ nhiệt, các doanh nghiệp đã 2 lần giảm bán trong tháng 6. Tuy nhiên, mặt bằng giá vẫn còn cao so với thời điểm cuối năm 2020. Đối với giá xăng dầu, lần điều chỉnh gần đây nhất mỗi lít xăng E5 RON92 tăng 620 đồng, RON 95 tăng 630 đồng; các mặt hàng dầu tăng 590 - 680 đồng mỗi lít, hoặc kg. Trước đó, giá xăng dầu trong nước cũng đã điều chỉnh tăng trong tháng 5 (giá xăng E5RON92 tăng 438 đồng/lít, giá xăng RON95-III tăng 370 đồng/lít, dầu hỏa tăng 566 đồng/lít).

Trao đổi với phóng viên TBTCVN mới đây, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh - Trưởng Bộ môn Quản trị Tài chính quốc tế thuộc Học viện Tài chính cho biết, những yếu tố nguyên vật liệu đầu vào tăng đương nhiên gây áp lực lên lạm phát. Tuy nhiên, lạm phát cao hay thấp cũng phụ thuộc nhiều vào tình hình dịch bệnh và các kịch bản tăng trưởng. Theo đó trong cùng một bối cảnh kinh tế, chúng ta nếu muốn giữ đạt tốc độ tăng trưởng cao thì có thể cũng sẽ phải chấp nhận “hiệu ứng phụ” là sự gia tăng lạm phát.

Dưới góc nhìn của một tổ chức quốc tế về nền kinh tế Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt 6,7% trong năm 2021 và 7,3% năm 2022. Tuy nhiên, Standard Chartered cho rằng, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ có thể làm gia tăng lạm phát và giá cả thực phẩm trên thế giới gia tăng cũng đang gây ra ảnh hưởng lên lạm phát tại Việt Nam.

Ngoài các yếu tố giá cả trong nước, nguy cơ “nhập khẩu” lạm phát cũng là một mối lo ngại được giới chuyên gia đặt ra. Thời gian qua, các nước trên thế giới đều đưa ra gói kích thích kinh tế khiến cho đồng tiền của nhiều quốc gia bị mất giá dẫn đến lạm phát.

Ngay cả đồng USD cũng đang phải chịu áp lực mất giá và nền kinh tế Mỹ cũng đối diện với lạm phát. Chi nhánh New York của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vừa qua cũng công bố chỉ số giá tiêu dùng của Mỹ trong tháng 5/2021 đã tăng lên 5%, cao hơn so với mức 3,6% trong tháng 4/2021.

Vẫn trong tầm kiểm soát

Diễn biến chung là vậy, nhưng đại diện Ngân hàng Nhà nước gần đây cho biết một số yếu tố tăng giá là có, nhưng tình hình lạm phát trong nước vẫn trong tầm kiểm soát.

Ông Phạm Thanh Hà - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ thuộc Ngân hàng Nhà nước cho biết, bối cảnh chung trên thế giới cho thấy, giá dầu thô WTI đến nay đã tăng 46,6% so với cuối năm 2020; chỉ số giá lương thực – thực phẩm FAO đến tháng 5 tăng 17,2% và được dự báo giữ ở mức cao. “Thị trường lo ngại về rủi ro lạm phát và rủi ro bất ổn tài chính, gia tăng kỳ vọng về việc các ngân hàng trung ương thu hồi các biện pháp nới lỏng sớm hơn dự kiến” - ông Hà nhận định.

Đối với nền kinh tế trong nước, GDP 6 tháng đầu năm 2021 được dự báo tăng khoảng 5,8% và theo đại diện Ngân hàng Nhà nước thì rủi ro lạm phát trong nước vẫn trong tầm kiểm soát. Cụ thể, lạm phát bình quân 5 tháng so với cùng kỳ là 1,29% - thấp nhất kể từ năm 2016. Lạm phát cơ bản bình quân 5 tháng so với cùng kỳ là 0,82% - mức tăng thấp nhất kể từ năm 2003. Theo đó trong bối cảnh hiện nay, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu năm 2021 bình quân khoảng 4%.

Ở góc độ một chuyên gia kinh tế độc lập, ông Đinh Trọng Thịnh cũng cho biết thêm, việc kiểm soát lạm phát cũng cần chú ý đến việc kiểm tra, giám sát chặt đầu vào của hàng hóa nhập khẩu để đề phòng lạm phát do tâm lý. Điều này có nghĩa là thực tế việc tăng giá có thể có, nhưng bị giới đầu cơ tranh thủ “té nước theo mưa”, thổi phồng lên so với thực tế.

Mặt bằng lãi suất tiếp tục giảm

“Trong quý II/2021, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước vẫn được điều hành theo định hướng chủ đạo hỗ trợ đà phục hồi kinh tế trong bối cảnh dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, thực hiện mục tiêu kép của Chính phủ “vừa chống dịch, vừa đảm bảo phát triển kinh tế”.
Trong đó, Ngân hàng Nhà nước vẫn điều hành lãi suất phù hợp với cân đối vĩ mô, lạm phát, diễn biến thị trường và tạo điều kiện giảm chi phí vay vốn cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế. Hiện mặt bằng lãi suất huy động và cho vay tiếp tục giảm so với cuối năm 2020.”

Ông Phạm Thanh Hà - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ NHNN


Chí Tín

Chí Tín

Đọc thêm

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 với loạt chỉ tiêu tăng trưởng hai chữ số. Theo đó, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 6.960 tỷ đồng, tăng 39% và hướng tới mức cao nhất lịch sử. Dư nợ tín dụng thị trường 1 dự kiến đạt 235.875 tỷ đồng, tăng 15%; đồng thời kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, đảm bảo tăng trưởng đi kèm an toàn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Kim TT/AVPL 17,210 ▲480K 17,510 ▲480K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Nguyên Liệu 99.99 16,500 ▲700K 16,700 ▲700K
Nguyên Liệu 99.9 16,450 ▲700K 16,650 ▲700K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 17,050 ▲650K 17,450 ▲650K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 17,000 ▲650K 17,400 ▲650K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,930 ▲650K 17,380 ▲650K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Hà Nội - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Đà Nẵng - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Miền Tây - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Tây Nguyên - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Miếng SJC Nghệ An 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Miếng SJC Thái Bình 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
NL 99.90 16,270 ▲800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300 ▲800K
Trang sức 99.9 16,690 ▲480K 17,390 ▲480K
Trang sức 99.99 16,700 ▲480K 17,400 ▲480K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 172 ▼1500K 17,502 ▲480K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 172 ▼1500K 17,503 ▲480K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,718 ▲1551K 1,748 ▲1578K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,718 ▲1551K 1,749 ▲48K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,698 ▲1533K 1,733 ▲48K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 165,084 ▲4752K 171,584 ▲4752K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,238 ▲3600K 130,138 ▲3600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,106 ▲3265K 118,006 ▲3265K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,974 ▲2929K 105,874 ▲2929K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,294 ▲2799K 101,194 ▲2799K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,523 ▲2001K 72,423 ▲2001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Cập nhật: 25/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17838 18111 18690
CAD 18595 18872 19489
CHF 32708 33093 33746
CNY 0 3470 3830
EUR 29917 30189 31220
GBP 34482 34874 35800
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15010 15598
SGD 20053 20335 20861
THB 722 785 838
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,073 30,097 31,345
JPY 161.38 161.67 170.41
GBP 34,719 34,813 35,798
AUD 18,078 18,143 18,717
CAD 18,779 18,839 19,418
CHF 33,023 33,126 33,886
SGD 20,187 20,250 20,924
CNY - 3,760 3,860
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.26 16.96 18.34
THB 773.63 783.18 833.38
NZD 15,041 15,181 15,540
SEK - 2,780 2,862
DKK - 4,025 4,141
NOK - 2,668 2,747
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,232.31 - 6,992.8
TWD 745.53 - 897.62
SAR - 6,894.03 7,217.19
KWD - 83,555 88,358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26359
AUD 18091 18191 19119
CAD 18809 18909 19927
CHF 33067 33097 34689
CNY 3764.6 3789.6 3925.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30184 30214 31937
GBP 34903 34953 36705
HKD 0 3355 0
JPY 162.64 163.14 173.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20256 20386 21121
THB 0 756.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17600000
SBJ 15000000 15000000 17600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,359
USD20 26,155 26,205 26,359
USD1 23,849 26,205 26,359
AUD 18,099 18,199 19,330
EUR 30,290 30,290 31,732
CAD 18,732 18,832 20,158
SGD 20,305 20,455 21,453
JPY 162.88 164.38 169.1
GBP 34,739 35,089 36,003
XAU 16,718,000 0 17,022,000
CNY 0 3,669 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80