Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Chính sách tài khóa và tiền tệ phối hợp rất tốt

Hoàng Yến
(TBTCO) - Trong phiên chất vấn tại Quốc hội ngày 11/11, nhiều đại biểu đã đặt câu hỏi với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng về việc điều hành chính sách tiền tệ, sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để đạt mục tiêu tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô. Theo Thống đốc, NHNN và Bộ Tài chính có sự phối hợp rất tốt trong điều hành hai chính sách này.
aa

Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt

Đại biểu Tạ Thị Yên (đoàn Điện Biên) đề nghị Thống đốc cho biết, trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động và nền kinh tế trong nước có độ mở lớn, phụ thuộc nhiều vào xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài, làm sao để việc điều hành chính sách tiền tệ đáp ứng yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng?

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Chính sách tài khóa và tiền tệ phối hợp rất tốt
Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng trong phiên chất vấn chiều 11/11.

Trả lời đại biểu vào chiều 11/11, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, thực tế những năm gần đây, các yếu tố về nước ngoài và trong nước đều tác động và đặt ra thách thức lớn đối với điều hành chính sách tiền tệ và quốc tế. Trong đó, có những diễn biến chưa từng có tiền lệ như dịch Covid-19, giá vàng lập đỉnh chưa từng có trong vòng một năm, lạm phát toàn cầu của các nước tăng cao… Đây là những diễn biến tác động ngay đối với thị trường tiền tệ, tài chính trong nước.

Tuy nhiên, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho rằng, NHNN đã chủ động tâm thế ứng phó với tình hình. Trong điều hành chính sách tiền tệ, 3 chỉ số quan trọng nhất là lãi suất, tỷ giá và tín dụng trong việc điều hành và NHNN phải thực hiện rất căn cơ.

Thống đốc khẳng định, trước hết là NHNN phải ổn định an toàn hoạt động của hệ thống. Khi hệ thống thanh khoản của tổ chức tín dụng được cải thiện thì NHNN mới nới room tín dụng. Về cơ bản, NHNN với vai trò đặt an toàn hoạt động của hệ thống lên hàng đầu, nên NHNN đã xử lý để ổn định thị trường ngoại hối và an toàn của hệ thống.

Về vấn đề này, trước đó đại biểu Nguyễn Văn Thi (Bắc Giang) đã đặt câu hỏi về việc mục tiêu tăng trưởng đặt ra là 7 - 7,5%/năm ảnh hưởng gì đến mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ của NHNN? NHNN dự kiến điều hành chính sách tiền tệ phối hợp với chính sách tài khóa ra sao để đạt được mục tiêu này?

Thống đốc Nguyễn Thị Hồng trả lời nêu rõ, khi thiết kế điều hành chính sách tiền tệ thì căn cứ và mục tiêu là lạm phát. Còn tăng trưởng kinh tế cũng là một chỉ tiêu để cân nhắc đưa ra định hướng về tăng trưởng tín dụng đầu năm. Chỉ tiêu này sẽ được điều hành và điều chỉnh tùy theo tình hình thực tế, cùng với đó là sự phối hợp của các chính sách như tiền tệ, tài khóa và các chính sách đầu tư, thương mại khác.

Trong quá trình triển khai, NHNN sẵn sàng thực hiện các giải pháp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Cụ thể như vừa qua NHNN đã đưa ra gói hỗ trợ cho vay nhà ở đối với người có thu nhập thấp là 120.000 tỷ đồng và nay là 145.000 tỷ đồng, hay gói hỗ trợ cho ngành thủy sản 30.000 tỷ đồng nay là 60.000 tỷ đồng...

Dù có nhiều giải pháp có thể thực hiện song Thống đốc nhấn mạnh không thể chủ quan với lạm phát. “Nếu lạm phát quay trở lại chúng tôi sẽ điều chỉnh để làm sao đạt được mục tiêu tổng thể về kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô cũng như đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế”, bà Nguyễn Thị Hồng khẳng định.

Ngân hàng không được dùng tiền ngân sách gửi để cho vay

Đánh giá về sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, Thống đốc cho biết, giữa NHNN và Bộ Tài chính có sự phối hợp rất tốt.

Theo đó, hai cơ quan đã chia sẻ các thông tin. Hệ thống ngân hàng nắm giữ tài khoản của ngân sách nhà nước (NSNN), nên tất cả những biến động thu, chi của NSNN sẽ tác động đến thanh khoản của hệ thống, NHNN phải nắm bắt thông tin để điều hành hằng ngày. NHNN điều tiết tiền tệ hằng ngày qua các phiên giao dịch trên nghiệp vụ thị trường mở. Khi thanh khoản thiếu, hay dư thừa tác động đến các yếu tố như tỷ giá… sẽ được NHNN điều tiết, đấy là sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và tài khóa.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Chính sách tài khóa và tiền tệ phối hợp rất tốt
Các đại biểu tham dự phiên họp chiều 11/11.

Bên cạnh đó, thời gian qua Chính phủ đã có nhiều cuộc họp, chỉ đạo về thúc đẩy các phân khúc của thị trường tài chính, như thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp… Các thị trường này phát triển sẽ giải quyết được nhu cầu vốn dài hạn cho doanh nghiệp và người dân.

Đây là sự phối hợp làm giảm áp lực, rủi ro cho hệ thống các ngân hàng, với bản chất là cung ứng nguồn vốn ngắn hạn, chủ yếu là nguồn vốn lưu động cho doanh nghiệp và người dân, Thống đốc NHNN cho biết.

Cũng quan tâm đến sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô, đặc biệt là những thời điểm nhạy cảm khi áp lực tỷ giá căng thẳng, đại biểu Hà Sỹ Đồng (Quảng Trị) đề nghị Thống đốc đánh giá về sự phối hợp giữa NHNN, Bộ Tài chính và Kho bạc Nhà nước để điều hành chính sách tiền tệ được tốt nhất.

Theo kinh nghiệm các nước, việc điều chuyển tiền gửi của NSNN tại hệ thống ngân hàng thương mại về ngân hàng trung ương là một trong những giải pháp được thực hiện trong bối cảnh lạm phát tăng quá cao. Khi đó, sẽ phải rút tiền về ngân hàng trung ương. Trường hợp thực hiện hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thì có thể điều chuyển ngược lại.

Theo Thống đốc, tiền NSNN được cho phép gửi ở các ngân hàng trong hệ thống. Trước đây tiền gửi của Kho bạc Nhà nước khi chưa sử dụng chủ yếu gửi ở các ngân hàng thương mại, tuy nhiên trong những năm gần đây đã chuyển về NHNN. 80% số dư 1 triệu tỷ đồng của quỹ ngân sách mà đại biểu đề cập được gửi ở NHNN.

Việc gửi tiền này có những tác động với điều hành hoạt động của ngân hàng cũng như điều hành chính sách tiền tệ. Chính vì vậy, thời gian vừa qua NHNN và Bộ Tài chính đã có quy chế phối hợp, hai bên thường xuyên trao đổi thông tin để NHNN chủ động điều tiết tiền tệ. Các tổ chức tín dụng phải nắm bắt thông tin về thu chi của ngân sách và đặc biệt là những khoản thu chi với khối lượng lớn và trong thời gian ngắn để chủ động trong điều tiết tiền tệ.

Trong luật quy định, để tránh rủi ro, các tổ chức tín dụng không được sử dụng số tiền NSNN gửi này để cho vay. Tuy nhiên, một cách gián tiếp thì số tiền này sẽ hỗ trợ cho các tổ chức tín dụng trong việc cân đối, đảm bảo thanh khoản. Do đó, cần phải theo dõi sát, không chủ quan và có sự phối hợp hợp lý để đảm bảo các tổ chức tín dụng cân đối vốn và an toàn cho hoạt động của mình, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng trả lời./.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 21/09/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17995 18269 18843
CAD 18046 18321 18939
CHF 30976 31354 31996
CNY 0 3842 3937
EUR 29230 29450 30529
GBP 34017 34407 35342
HKD 0 3184 3387
JPY 159 162 170
KRW 0 18 20
NZD 0 14565 15150
SGD 19851 20133 20701
THB 697 760 813
USD (1,2) 25746 0 0
USD (5,10,20) 25785 0 0
USD (50,100) 25813 25827 26193
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,272 29,295 30,684
JPY 161.27 161.56 171.31
GBP 34,192 34,285 35,471
AUD 18,187 18,253 18,950
CAD 18,233 18,292 18,969
CHF 31,232 31,329 32,248
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,809 3,954
HKD 3,248 3,258 3,395
KRW 17.29 18.03 19.62
THB 744.24 753.43 806.47
NZD 14,545 14,680 15,118
SEK - 2,599 2,691
DKK - 3,926 4,065
NOK - 2,713 2,811
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,960.1 - 6,727.23
TWD 737.68 - 893.72
SAR - 6,805.55 7,168.69
KWD - 82,348 87,625
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,309 29,427 30,627
GBP 34,205 34,342 35,368
HKD 3,248 3,261 3,378
CHF 31,091 31,216 32,159
JPY 161.83 162.48 170.46
AUD 18,193 18,266 18,860
SGD 20,036 20,116 20,706
THB 761 764 801
CAD 18,249 18,322 18,912
NZD 14,631 15,173
KRW 17.95 19.92
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18166 18266 19191
CAD 18223 18323 19334
CHF 31202 31232 32813
CNY 3822.9 3847.9 3983
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29400 29430 31155
GBP 34298 34348 36119
HKD 0 3305 0
JPY 162.34 162.84 173.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20003 20133 20857
THB 0 725.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,650 25,830 26,200
USD20 25,630 25,830 26,200
USD1 24,356 25,830 26,918
AUD 18,170 18,325 19,452
EUR 29,150 29,308 31,800
CAD 18,110 18,269 19,594
SGD 20,007 20,207 20,784
JPY 161.11 163.13 168.86
GBP 34,090 34,302 35,400
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/09/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30