Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo thuận lợi trong xử lý nợ xấu

Chí Tín
(TBTCO) - Theo trao đổi của TS. Nguyễn Quốc Hùng - Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng, việc kéo dài thời gian thực hiện Nghị quyết 42/2017/QH14 là giải pháp quan trọng thời điểm hiện tại để xử lý nợ xấu. Tuy nhiên về mặt lâu dài, hệ thống pháp luật liên quan khác tiếp tục đồng bộ hóa hơn nữa và Hiệp hội Ngân hàng sẽ rà soát và có kiến nghị riêng về vấn đề này.
aa

PV: Chính phủ đang đề xuất Quốc hội kéo dài thời hạn của Nghị quyết 42/2017/QH14 (Nghị quyết 42) về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Theo ông, việc kéo dài Nghị quyết 42 sẽ có vai trò, ý nghĩa như thế nào trong việc xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng?

TS. Nguyễn Quốc Hùng: Nhìn lại quá trình thực hiện gần 5 năm qua, Nghị quyết 42 đã có tác động hết sức tích cực đối với hệ thống ngân hàng trong việc xử lý nợ xấu. Ý thức trả nợ của khách hàng chuyển biến tích cực, khách hàng chủ động phối hợp với ngân hàng xử lý nợ, trách nhiệm của người đi vay đối với khoản nợ ngân hàng được nâng lên một cách rõ rệt.

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo thuận lợi trong xử lý nợ xấu
TS. Nguyễn Quốc Hùng

Nền kinh tế nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng cũng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19 trong hơn 2 năm qua. Các ngân hàng thực hiện việc giãn hoãn nợ để hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch, nhưng cũng dẫn đến có những khoản nợ dưới chuẩn được cơ cấu để khách hàng được vay tiếp (nếu có phương án kinh doanh hiệu quả) làm cho nợ xấu tiềm ẩn trong thời gian tới cũng là điều đáng lo ngại.

Theo số liệu đã công bố, hàng triệu tỷ đồng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, song nợ cơ cấu chỉ rơi vào khoảng 300.000 tỷ đồng. Các số liệu này chưa phản ánh được hết thực tế. Thực chất trong 2 năm đại dịch, doanh nghiệp rất khó khăn và tiềm ẩn nợ xấu tăng cao.

Trường hợp Nghị quyết 42 hết hiệu lực và không được gia hạn thì tôi cho rằng, ngân hàng vẫn xử lý được nợ xấu, nhưng kết quả rất hạn chế. Không những thế, tình trạng khách hàng chây ì không trả nợ, ý thức và trách ngiệm trong việc trả nợ của khách hàng sẽ quay trở lại như trước khi có Nghị quyết 42.

PV: Tuy nhiên, cũng có những ý kiến cho rằng Nghị quyết 42 đã trao “nhiều đặc quyền cho ngành Ngân hàng”, quan điểm của ông thế nào?

TS. Nguyễn Quốc Hùng: Tôi không nghĩ đó là đặc quyền. Bởi thực tế trước khi có Nghị quyết 42, nhiều trường hợp, ngân hàng đòi nợ rất khó khăn, phát mãi tài sản không được, thu giữ tài sản không xong, đôn đốc đòi nợ không được, khách hàng bỏ mặc tài sản đó cho ngân hàng tự xử lý... Tất cả những vấn đề này ngân hàng không làm gì được. Ý thức trả nợ rất kém, dẫn đến các khoản nợ mặc dù có tài sản bảo đảm song không phát mại được, nợ xấu tăng cao ảnh hưởng đến an toàn hệ thống.

PV: Nghị quyết 42 được gia hạn cũng sẽ vẫn chỉ có thời hạn nhất định. Vậy, theo ông đâu là giải pháp lâu dài để hoàn thiện hệ thống pháp lý cho việc xử lý nợ xấu?

TS. Nguyễn Quốc Hùng: Việc kiến nghị kéo dài Nghị quyết 42 tôi cho là rất cần thiết như phân tích ở trên, hoặc về lâu dài, cơ quan chức năng có thể xem xét ban hành luật chuyên ngành về xử lý nợ xấu.

Nghị quyết 42 đã có tác động tích cực đối với hệ thống ngân hàng trong việc xử lý nợ xấu.
Nghị quyết 42 đã có tác động tích cực đối với hệ thống ngân hàng trong việc xử lý nợ xấu.

Trường hợp không ban hành được luật xử lý nợ xấu thì trong thời gian kéo dài Nghị quyết 42, tôi mong muốn Ngân hàng Nhà nước phối hợp với các bộ, ngành rà soát Luật các Tổ chức tín dụng và các bộ luật liên quan, trên cơ sở rút kinh nghiệm quá trình thực thi Nghị quyết 42, để sửa đổi, bổ sung đồng bộ Luật các Tổ chức tín dụng với các bộ luật liên quan như: Bộ Luật dân sự, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Quản lý thuế, Luật Đất đai, Luật Nhà ở... để Chính phủ, Quốc hội không phải quan tâm lo lắng vấn đề nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Về phía Hiệp hội Ngân hàng, chúng tôi sẽ rà soát tất cả các văn bản pháp luật liên quan và sẽ có văn bản kiến nghị lên Chính phủ để xem xét, trong quá trình sửa đổi Luật các Tổ chức tín dụng thì cũng điều chỉnh tại những luật liên quan để làm sao đảm bảo được quyền lợi, trách nhiệm của ngân hàng và người đi vay và sự phối hợp của các bộ, ngành, chính quyền địa phương trong việc xử lý nợ.

PV: Ngoài vấn đề hoàn thiện pháp lý, bản thân các ngân hàng cũng cần phải có giải pháp phòng vệ cần thiết để tự bảo vệ mình trước các rủi ro nợ xấu, thưa ông?

TS. Nguyễn Quốc Hùng: Để nỗi đau nợ xấu như trong quá khứ không lặp lại, những năm qua Ngân hàng Nhà nước liên tục thực hiện các đợt thanh tra, xử lý các tổ chức tín dụng vi phạm trong hoạt động cấp tín dụng hoặc che giấu nợ xấu. Thực tế là bản thân các tổ chức tín dụng cũng phải tái cơ cấu và cũng phải xử lý nợ xấu, chưa xử lý được nợ xấu thì phải trích lập dự phòng rủi ro để xử lý.

Hiện tại, các tổ chức tín dụng đều thực hiện trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ cho những khoản nợ xấu và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu. Thậm chí có những tổ chức tín dụng có tình hình tài chính lành mạnh đã có tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao hơn nhiều so với tỷ lệ nợ xấu thực tế. Nhiều tổ chức tín dụng đặt vấn đề tăng vốn điều lệ trong năm 2022, qua đó nâng cao năng lực tài chính, mở rộng trích lập dự phòng rủi ro để đảm bảo an toàn hoạt động.

PV: Xin cảm ơn ông!

Một số kết quả xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42:

Kết quả, nợ xấu đã xử lý của giai đoạn 2017 - 2021 là 750.000 tỷ đồng, trong đó theo Nghị quyết 42 đạt khoảng 390.000 tỷ đồng (chiếm hơn 50%). Trong tổng số 750.000 tỷ đồng nợ xấu đã xử lý ở giai đoạn này, có đến trên 600.000 tỷ đồng là các tổ chức tín dụng tự xử lý, còn lại khoảng hơn 100.000 tỷ đồng do Công ty Quản lý tài sản của tổ chức tín dụng (VAMC) và khoảng 20.000 tỷ đồng do các tổ chức mua bán nợ khác xử lý. Tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng đến thời điểm ngày 31/12/2021 còn khoảng 1,49 - 2%.

Chí Tín

Đọc thêm

Minh bạch xuất xứ để khẳng định uy tín hàng Việt

Minh bạch xuất xứ để khẳng định uy tín hàng Việt

(TBTCO) - Theo PGS.TS Đinh Công Hoàng - Nghiên cứu viên cao cấp, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, minh bạch xuất xứ và nâng giá trị thực tạo ra tại Việt Nam là cách để doanh nghiệp giảm rủi ro trung chuyển, củng cố niềm tin của các thị trường xuất khẩu và vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

(TBTCO) - Theo ông Đỗ Thanh Tùng - Phó phòng Phân tích Ngành và Doanh nghiệp - Trung tâm Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), ngành ngân hàng nửa đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng tốc của lợi nhuận, nhờ tín dụng cao và NIM phục hồi, song đằng sau bức tranh tích cực này, huy động vốn vẫn là "điểm nghẽn". Trong bối cảnh đó, tỷ giá có thể được “lỏng tay” hơn để hỗ trợ ổn định lãi suất.
Rộng mở cơ hội thu hút dòng vốn công nghệ cao từ Hoa Kỳ

Rộng mở cơ hội thu hút dòng vốn công nghệ cao từ Hoa Kỳ

(TBTCO) - Theo ông Adam Sitkoff - Giám đốc Điều hành Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham), cam kết mạnh mẽ của Việt Nam về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang mở ra cơ hội thu hút thêm đầu tư công nghệ cao từ Hoa Kỳ. Để nắm bắt cơ hội này, Việt Nam cần tiếp tục cải cách thể chế, phát triển nhân lực có kỹ năng và bảo đảm nguồn năng lượng ổn định.
Bảo hiểm nhúng: Từ siêu ứng dụng đến túi tiền người Việt

Bảo hiểm nhúng: Từ siêu ứng dụng đến túi tiền người Việt

(TBTCO) - Không đại lý, không tư vấn, không giấy tờ - chỉ một cú chạm trên ứng dụng mua sắm, ông Phạm Trường Khánh - Tổng giám đốc Affina Việt Nam, trao đổi với Thời báo Tài chính Việt Nam về sự bứt tốc của bảo hiểm nhúng khi đang định hình lại cách người Việt tiếp cận bảo hiểm, và những điểm nghẽn doanh nghiệp cần vượt qua để biến "phí lẻ" thành lợi nhuận bền vững.
Cơ cấu vốn nhà nước: Cơ hội thu hút dòng vốn dài hạn

Cơ cấu vốn nhà nước: Cơ hội thu hút dòng vốn dài hạn

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Tyler Nguyễn Mạnh Dũng - Giám đốc Cấp cao Nghiên cứu Chiến lược Thị trường, Chứng khoán HSC cho rằng, điều chỉnh tỷ lệ sở hữu nhà nước có thể mở rộng dư địa thu hút dòng vốn dài hạn, song sức hút từng thương vụ phụ thuộc vào định giá, quy mô chào bán và nhu cầu nhà đầu tư.
Giảm 30% thuế thu nhập: Khoản “đệm” tài chính giúp doanh nghiệp trụ vững trước biến động

Giảm 30% thuế thu nhập: Khoản “đệm” tài chính giúp doanh nghiệp trụ vững trước biến động

(TBTCO) - Trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chính sách giảm 30% thuế thu nhập đối với hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp, ông Đinh Văn Đoàn - Giám đốc Công ty TNHH Thương mại và Vận tải du lịch H&D cho rằng, đây là một khoản “đệm” tài chính an toàn để doanh nghiệp linh hoạt xoay vòng vốn trong kinh doanh, đặc biệt là trong những thời điểm thị trường có nhiều biến động.
Giảm gánh nặng thực hiện nghĩa vụ thuế cho người kinh doanh

Giảm gánh nặng thực hiện nghĩa vụ thuế cho người kinh doanh

(TBTCO) - Việc các nền tảng thương mại điện tử có chức năng thanh toán được giao trách nhiệm khấu trừ, khai và nộp thuế thay hộ, cá nhân kinh doanh và nhà cung cấp nước ngoài đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh xuyên biên giới, tăng tính minh bạch của thị trường. Phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Đặng Văn Thành - Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế Thương mại điện tử (Cục Thuế) làm rõ thêm những thay đổi của chính sách.
Nâng tầm thị trường chứng khoán, tạo sức hút với dòng vốn dài hạn

Nâng tầm thị trường chứng khoán, tạo sức hút với dòng vốn dài hạn

(TBTCO) - Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam đến năm 2045 được kỳ vọng tạo động lực nâng cao chất lượng thị trường chứng khoán, thúc đẩy luân chuyển vốn và mở rộng khả năng thu hút các nhà đầu tư tổ chức. Trao đổi với phóng viên, ông Trương Hiền Phương - Giám đốc cấp cao Công ty cổ phần Chứng khoán KIS Việt Nam cho rằng, cùng với tiến trình nâng hạng, Việt Nam cần gia tăng nguồn hàng chất lượng, hoàn thiện hạ tầng, nâng cao tính minh bạch và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế để thu hút dòng vốn bền vững.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều