TPBank – Từ lựa chọn số hóa trong khó khăn đến khát vọng E-Vietnam

(TBTCO) - Tại Tọa đàm “Cơ hội vươn mình từ chuyển đổi số: Câu chuyện tiên phong từ ứng dụng VNeID và ngành Tài chính Ngân hàng” ngày 9/9, CEO TPBank Nguyễn Hưng cho rằng lựa chọn công nghệ trong giai đoạn khó khăn đã đưa ngân hàng đi đúng xu thế. Và trên con đường xây dựng E-Vietnam, yếu tố then chốt vẫn là xuất phát từ nhu cầu thực sự của người dân.
aa
TPBank hiện vẫn duy trì hoạt động ổn định, an toàn, hiệu quả Chạm tương lai ngành tài chính cùng “Ngân hàng trí tuệ” TPBank Lập cú đúp giải thưởng từ ADB, TPBank ghi dấu ấn trên bản đồ tài trợ thương mại toàn cầu

Những ngày đầu tháng 9, câu chuyện tặng quà cho mọi người dân nhân dịp 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 với số tiền 100.000 đồng đã trở thành chủ đề được nhắc đến mọi nơi. Hàng chục triệu người lần đầu trải nghiệm dịch vụ công số, liên kết tài khoản ngân hàng với an sinh xã hội trên VNeID.

Đây cũng là nội dung được thảo luận sôi nổi tại Tọa đàm “Cơ hội vươn mình từ chuyển đổi số: Câu chuyện tiên phong từ ứng dụng VNeID và ngành Tài chính Ngân hàng” ngày 9/9. Từ câu chuyện đó và những thành công trong chuyển đổi số ngành ngân hàng, các chuyên gia, lãnh đạo ngân hàng, doanh nghiệp đã nhìn về tương lai một quốc gia số E–Vietnam thịnh vượng.

TPBank – Từ lựa chọn số hóa trong khó khăn đến khát vọng E-Vietnam
TPBank là một trong những ngân hàng tiên phong đồng hành cùng Chính phủ trong chương trình tặng quà 100.000 đồng dịp Quốc khánh, thậm chí còn tặng thêm 100.000 đồng cho người dân liên kết thành công tài khoản an sinh xã hội trên VNeID với tài khoản TPBank.

Theo CEO Nguyễn Hưng, đây không phải là chương trình kinh doanh, mà là một lời tri ân nhân dịp đặc biệt. “Chúng tôi không có ý định kinh doanh gì trong chương trình này. Nhân dịp Quốc khánh, ngân hàng chỉ muốn gửi thêm một phần quà nhỏ tới khách hàng”, ông chia sẻ. Ông cũng cho biết lượng khách hàng đăng ký khá lớn cho thấy mức độ lan tỏa mạnh mẽ.

Cũng theo ông Hưng, Việt Nam hiện sở hữu hệ thống thanh toán khổng lồ qua ngân hàng. Nếu như trước đây số người dân sở hữu tài khoản ngân hàng còn hạn chế, thì nay đã có tới 86% người trưởng thành có tài khoản, giúp việc triển khai nhanh chóng.

Đặc biệt, toàn bộ giao dịch thanh toán hiện nay đang vận hành theo cơ chế miễn phí cho người dân. “Thực tế, hiếm nước nào như nước mình khi toàn bộ giao dịch thanh toán là miễn phí hết. Trong khi ở châu Âu hay châu Mỹ, phí giao dịch khá cao. Đây là nỗ lực lớn của toàn ngành ngân hàng: duy trì một hệ thống thanh toán khổng lồ, miễn phí cho người dân, dù không thu lợi trực tiếp từ hoạt động này,” ông Hưng cho biết.

TPBank – Từ lựa chọn số hóa trong khó khăn đến khát vọng E-Vietnam
Phát triển mạnh kênh số - nơi ngân hàng không bị giới hạn việc phục vụ khách hàng theo không gian và thời gian.

Lựa chọn đúng xu thế trong thách thức

Theo tiết lộ của ông Hưng, hiện phần lớn giao dịch của khách hàng tại TPBank là trên kênh số với tỷ lệ lên tới 98%. Quy mô khách hàng đã lên tới hơn 14 triệu, nằm trong nhóm những ngân hàng có tệp khách hàng lớn nhất Việt Nam.

Đáng nói, trước khi trở thành một trong những ngân hàng dẫn đầu về số hoá, TPBank từng là ngân hàng yếu kém, thuộc diện phải tái cơ cấu bắt buộc. Năm 2011, TPBank đứng cuối bảng xếp hạng ngân hàng thương mại Việt Nam. Từ vị trí đó để vươn lên nhóm 10 - 12 ngân hàng hàng đầu như hiện nay là một hành trình đầy gian khó.

Ông Nguyễn Hưng cho biết, nếu chỉ cạnh tranh theo mô hình truyền thống với những ngân hàng đã đi trước, TPBank gần như không có cơ hội, nhất là khi Nhà nước hạn chế việc mở rộng chi nhánh. Chính vì vậy, ngay từ khi tái cơ cấu, ban lãnh đạo TPBank đã chọn con đường duy nhất: phát triển mạnh kênh số - nơi ngân hàng không bị giới hạn việc phục vụ khách hàng theo không gian và thời gian.

“Có thể nói, trong cái khó ló cái khôn. Trong hoàn cảnh thách thức, TPBank đã có lựa chọn duy nhất, và lựa chọn đó đã đúng xu thế”, ông Hưng nhìn nhận.

Nhờ vậy, dù số lượng chi nhánh vật lý không nhiều, TPBank vẫn thu hút được lượng khách hàng lớn. Ngân hàng tiên phong triển khai mô hình chi nhánh tự động 24/7 trên toàn quốc, được Ngân hàng Nhà nước cho phép thử nghiệm. Đến nay, đã có khoảng 400–500 điểm giao dịch tự động LiveBank thay thế hiệu quả cho chi nhánh truyền thống. Đây là một bước ngoặt lớn, vừa tiết kiệm chi phí, vừa mang lại trải nghiệm thuận tiện cho khách hàng.

TPBank – Từ lựa chọn số hóa trong khó khăn đến khát vọng E-Vietnam
TPBank – Từ lựa chọn số hóa trong khó khăn đến khát vọng E-Vietnam
TPBank giới thiệu loạt sản phẩm công nghệ hiện đại tại Triển lãm thành tựu Đất nước nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc khánh với chủ đề: "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc".

Từ E-Bank đến khát vọng E-Vietnam

Không dừng ở ngân hàng số, TPBank đặt mục tiêu góp phần xây dựng E-Vietnam. VNeID và cơ sở dữ liệu dân cư giúp eKYC chính xác gần như tuyệt đối, ngăn chặn gian lận, thúc đẩy thanh toán không tiền mặt.

Ông Nguyễn Hưng cho rằng E-Vietnam không phải là một viễn cảnh xa xôi, mà hoàn toàn có thể trở thành hiện thực ngay trong thập kỷ này. Ông nhận định quyết tâm cải cách của Đảng và Chính phủ đã tạo nền tảng để quốc gia bứt phá. VNeID là minh chứng rõ ràng cho lợi ích thiết thực mà số hoá mang lại.

Đặc biệt, CEO TPBank nhấn mạnh: “Suy cho cùng, nhu cầu thực sự của người dân mới là yếu tố then chốt quyết định thành công của chuyển đổi số. Chính những lợi ích thiết thực, nhỏ bé hàng ngày sẽ tạo thành thói quen sử dụng, rồi dần lan tỏa thành sự thay đổi lớn"./.

Hải Băng

Đọc thêm

Ngân hàng chặn đứng hành vi can thiệp mobile banking, hệ thống SIMO ngăn hơn 5.200 tỷ đồng nghi lừa đảo

Ngân hàng chặn đứng hành vi can thiệp mobile banking, hệ thống SIMO ngăn hơn 5.200 tỷ đồng nghi lừa đảo

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết, hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận (SIMO) đã phát cảnh báo tới khoảng 4,6 triệu lượt khách hàng, giúp tạm dừng hoặc hủy giao dịch nghi ngờ lừa đảo với tổng giá trị hơn 5.200 tỷ đồng. Các tổ chức tín dụng tiếp tục siết chặt biện pháp bảo mật thanh toán trực tuyến, phòng chống gian lận và ngăn chặn can thiệp trái phép vào ứng dụng ngân hàng.
Huy động "đuối sức" trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

Huy động "đuối sức" trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

(TBTCO) - Đại diện Ngân hàng Nhà nước khẳng định thanh khoản hệ thống vẫn dồi dào dù tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động vốn 3,8% suốt 5 năm, đẩy tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) lên 112 - 114%. Khi cần thiết, Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục nới các công cụ hỗ trợ thanh khoản.
Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

(TBTCO) - Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 26/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025 và tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước. Đại diện Ngân hàng Nhà nước cũng thông tin về chính sách loại trừ room tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên và 18 dự án của các doanh nghiệp lớn.
Mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK nhận hoàn tiền tới 1.000.000 VND

Mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK nhận hoàn tiền tới 1.000.000 VND

(TBTCO) - Tận hưởng ưu đãi hoàn tiền tới 1.000.000 VND khi mở mới và chi tiêu qua thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK MasterCard trong tháng 7/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

(TBTCO) - Sáng 2/7, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng, còn 25.205 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về khoảng 26.580 - 26.610 VND/USD. Trái chiều, chỉ số DXY tăng 0,24% lên 101,4 điểm, khi đồng USD vẫn được hỗ trợ dù PMI sản xuất Mỹ tháng 6 giảm xuống 53,3 điểm, thấp hơn kỳ vọng.
Giá vàng hôm nay ngày 2/7: Giá vàng thế giới phục hồi, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 2/7: Giá vàng thế giới phục hồi, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 5,93 USD/ounce lên mức 4.035,7 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước tiếp tục điều chỉnh giảm 500.000 - 1 triệu đồng/lượng.
MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB vừa phê duyệt kế hoạch tăng vốn thêm 6.240 tỷ đồng qua phát hành cổ phiếu với tỷ lệ 20%, đưa vốn điều lệ lên 37.440 tỷ đồng, với mục tiêu củng cố bộ đệm vốn và tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng.
Chính thức nâng trần khoản vay giá trị nhỏ gấp 4 lần, sau khi mức 100 triệu đồng trở nên “quá chật”

Chính thức nâng trần khoản vay giá trị nhỏ gấp 4 lần, sau khi mức 100 triệu đồng trở nên “quá chật”

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước chính thức nâng hạn mức khoản vay giá trị nhỏ tại các tổ chức tín dụng từ 100 triệu đồng lên 400 triệu đồng từ ngày 15/8 tới đây. Quy định mới được kỳ vọng giúp người dân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ tiếp cận vốn thuận lợi hơn nhờ thủ tục vay đơn giản hơn và thời gian xử lý hồ sơ được rút ngắn đáng kể.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Kim TT/AVPL 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲210K 13,500 ▲210K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲210K 13,450 ▲210K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲210K 14,300 ▲210K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲210K 14,250 ▲210K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲210K 14,230 ▲210K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Hà Nội - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Đà Nẵng - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Miền Tây - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Tây Nguyên - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲200K 14,690 ▲200K
Trang sức 99.99 14,000 ▲200K 14,700 ▲200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▲20K 14,842 ▲200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▲20K 14,843 ▲200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,453 ▲20K 1,483 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,453 ▲20K 1,484 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,433 ▲20K 1,468 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,347 ▲1981K 145,347 ▲1981K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 ▲1500K 110,261 ▲1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,484 ▲1360K 99,984 ▲1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,207 ▲1220K 89,707 ▲1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,243 ▲1166K 85,743 ▲1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,872 ▲834K 61,372 ▲834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Cập nhật: 02/07/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17599 17872 18451
CAD 17971 18246 18865
CHF 31978 32360 33009
CNY 0 3831 3924
EUR 29365 29585 30666
GBP 34244 34635 35573
HKD 0 3221 3423
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14623 15210
SGD 19779 20061 20631
THB 704 767 821
USD (1,2) 26023 0 0
USD (5,10,20) 26064 0 0
USD (50,100) 26093 26107 26465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,105 26,105 26,465
USD(1-2-5) 25,061 - -
USD(10-20) 25,061 - -
EUR 29,429 29,453 30,832
JPY 157.44 157.72 167.09
GBP 34,304 34,397 35,565
AUD 17,804 17,868 18,534
CAD 18,162 18,220 18,873
CHF 32,105 32,205 33,136
SGD 19,882 19,944 20,715
CNY - 3,797 3,939
HKD 3,286 3,296 3,432
KRW 15.6 16.27 17.68
THB 752.86 762.16 815.3
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,658 2,750
DKK - 3,937 4,072
NOK - 2,606 2,697
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,011.44 - 6,783.89
TWD 744.16 - 900.75
SAR - 6,886.19 7,247.34
KWD - 83,139 88,385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,085 26,105 26,465
EUR 29,362 29,480 30,671
GBP 34,296 34,434 35,460
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,944 32,072 32,997
JPY 157.73 158.36 166.14
AUD 17,781 17,852 18,444
SGD 19,946 20,026 20,611
THB 769 772 808
CAD 18,166 18,239 18,806
NZD 14,676 15,212
KRW 16.22 17.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26091 26091 26465
AUD 17803 17903 18825
CAD 18169 18269 19280
CHF 32253 32283 33865
CNY 3812 3837 3972.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29554 29584 31309
GBP 34570 34620 36377
HKD 0 3355 0
JPY 159.64 160.14 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14751 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19942 20072 20794
THB 0 734.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,122 26,172 26,465
USD20 26,122 26,172 26,465
USD1 26,122 26,172 26,465
AUD 17,823 17,923 19,030
EUR 29,641 29,641 31,050
CAD 18,101 18,201 19,507
SGD 19,998 20,148 20,702
JPY 159.08 160.58 165.1
GBP 34,353 34,703 35,550
XAU 14,538,000 0 14,842,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/07/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80