Tỷ giá chưa hẳn “thoát khó” do kỳ vọng động thái từ FED

Chí Tín
(TBTCO) - Những ngày qua, tỷ giá VND/USD đã hạ nhiệt đáng kể, một phần do đồng Đô la Mỹ giảm giá mạnh trên thị trường quốc tế. Mặc dù vậy, kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) hạ nhanh lãi suất lại đang suy yếu hơn có thể khiến đồng USD tăng giá trở lại và tiếp tục tạo áp lực tỷ giá thời gian tới.
aa
Tỷ giá chưa hẳn “thoát khó” do kỳ vọng động thái từ FED
Áp lực tỷ giá đã được giải tỏa đáng kể trong quý III/2024. Ảnh tư liệu.

Tỷ giá vào chu kỳ “dễ thở”

Diễn biến tỷ giá cho thấy bầu không khí đang rất “dễ thở” đối với thị trường ngoại hối trong giai đoạn khoảng từ đầu tháng 8/2024 đến nay. Hiện tại, tỷ giá bán ra tại Vietcombank đã giảm về mức sát mốc 25.000 VND/USD, thấp hơn khá nhiều so với mặt bằng tỷ giá thời điểm giữa năm với bán ra tại ngân hàng này có lúc đã sát mốc 25.500 VND/USD. Điều này cho thấy, áp lực tỷ giá đã được giải tỏa đáng kể trong quý III/2024, sau một giai đoạn tăng khá nóng 2 quý đầu năm 2024.

Trước đó trong nửa đầu năm 2024, tỷ giá là một trong những tâm điểm của thị trường tài chính với áp lực tăng giá khác mạnh. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá USD tháng 7/2024 tăng 0,05% so với tháng trước; tăng 4,22% so với tháng 12/2023; tăng 7,14% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tính đến tháng 7/2024, mức mất giá của VND so với USD là khoảng 4,4%. Tại thời điểm đó, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN cho biết, nhu cầu nhập khẩu 6 tháng đầu năm và các nhu cầu ngoại tệ khác cũng lớn, nên trong những thời điểm cần thiết thì NHNN cũng bán ngoại tệ để đảm bảo nguồn ngoại tệ cho nhập khẩu và ổn định tâm lý cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Mặc dù vậy, việc bán ngoại tệ can thiệp thị trường của NHNN cũng chỉ là một trong những giải pháp tạm thời và khó có thể kéo dài nếu như tỷ giá vẫn tiếp tục có những diễn biến phực tạp, bởi việc này khiến dự trữ ngoại hối bị suy giảm. Theo đó, diễn biến tỷ giá trong những ngày gần đây không những không tăng mà còn giảm, đã giúp cho áp lực điều hành chính sách tiền tệ cũng trở nên dễ thở hơn.

Theo dõi diễn biến của nền kinh tế trong và ngoài nước, các chuyên gia kinh tế cho rằng, mặc dù áp lực nhập khẩu lớn, nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì được trạng thái xuất khẩu tốt. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 7/2024 đạt 35,92 tỷ USD, tăng 6,7% so với tháng trước và tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2024, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 226,98 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước.

Trong khi đó, tại thị trường quốc tế, USD giảm mạnh cũng là một trong những yếu tố giúp cho tỷ giá đi vào xu hướng giảm. Chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng USD hiện đã giảm về chỉ còn khoảng 102 điểm, thấp hơn khá nhiều so với thời đỉnh cao có lúc trên 106 điểm của đồng tiền này hồi tháng 6/2024.

Vẫn còn nhiều ẩn số

Những tác động của đồng USD giảm giá trên thị trường quốc tế thời gian qua đến từ việc kỳ vọng FED giảm lãi suất sẽ diễn ra nhanh hơn dự kiến hồi đầu năm, do các số liệu kinh tế Mỹ đang có phần chậm lại cùng với lạm phát hạ nhiệt.

Trong bối cảnh đó, dòng vốn trên thị trường tài chính quốc tế có xu hướng quay trở lại trái phiếu khi suy thoái kinh tế thay thế lạm phát là nỗi sợ hãi chính của thị trường và các tài sản có thu nhập cố định, chứng tỏ giá trị của nó như một hàng rào chống lại sự hỗn loạn của thị trường chứng khoán trong một số thời điểm hồi giữa tháng 8. Trong nửa đầu tháng 8, các nhà đầu tư đã rót 8,9 tỷ USD vào các quỹ trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu chính phủ Mỹ, đánh dấu con số hàng tháng cao nhất kể từ tháng 1 và lớn thứ hai kể từ giữa năm 2021.

Trong diễn biến dòng chảy tài chính có thiên hướng phòng thủ như trên, nhiều dự báo thời điểm đó cho thấy FED có thể sẽ thực hiện các đợt lãi suất mạnh mẽ kể từ cuộc họp tháng 9. Có thời điểm, công cụ FEDWatch dự báo khả năng hạ 0,5% lãi suất, thậm chí đã lấn át so với khả năng chỉ hạ 0,25%. Đây cũng chính là một trong lý do khiến cho đồng USD đi vào xu hướng giảm giá mạnh thời gian qua.

Tuy nhiên, diễn biến hiện tại đã có nhiều thay đổi, dòng tiền đang trở lại cổ phiếu, thị trường chứng khoán Mỹ, Nhật và nhiều thị trường lớn khác đều đang phục hồi. Các số liệu kinh tế Mỹ cũng không quá xấu như thị trường lo ngại thời điểm giữa tháng 8 và điều này khiến cho các dự báo đã có phần thay đổi. Cụ thể, các dự báo gần đây ngày càng cho thấy có thể FED cũng không cần thiết phải hạ lãi suất quá nhanh. Công cụ FEDWatch tại thời điểm sáng ngày 20/8 ghi nhận xác suất gần 77% khả năng FED sẽ hạ 0,25% lãi suất trong cuộc họp tháng 9, trong khi kịch bản với việc giảm 0,5% chỉ là 23%.

Với động thái này, đồng USD có thể sẽ dừng đà giảm điểm và thậm chí cũng sẽ phục hồi tăng trở lại, theo đó có thể lại gây áp lực tỷ giá trong mối quan hệ với VND. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng điều này tuy ảnh hưởng, nhưng mức độ cũng không nhiều. PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp thuộc Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho biết, các động thái từ FED thực chất chủ yếu tác động tâm lý đến thị trường trong nước nhiều hơn là những tác động trực tiếp. Ngoài ra, chính sách tiền từ FED nếu có tác động tới thị trường trong nước cũng thường có độ trễ từ 3 - 6 tháng, chứ không phải tác động ngay và như vậy không tác động quá nhiều với thị trường tiền tệ Việt Nam.

Mặc dù vậy, ông Huân cũng cảnh báo một số yếu tố có thể vẫn khiến tỷ giá “gợn sóng” trong giai đoạn từ nay đến cuối năm, bởi khi kinh tế phục hồi thì nhu cầu nhập khẩu hàng tiêu dùng tăng, đồng thời nhu cầu nhập nguyên vật liệu cũng có thể tăng chuẩn bị cho mùa vụ kinh doanh cận tết và chu kỳ kinh doanh năm 2025.

Xuất siêu vẫn là yếu tố thuận

Theo Tổng cục Thống kê, cán cân thương mại hàng hóa của cả nước tháng 7/2024 xuất siêu 2,12 tỷ USD. Tính chung 7 tháng năm 2024, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 14,08 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 16,5 tỷ USD).

Chí Tín

Đọc thêm

Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục ghi danh trong Fortune Southeast Asia 500, khẳng định vị thế Tập đoàn tài chính - bảo hiểm hàng đầu Việt Nam.
Bộ Tài chính bãi bỏ 32 thông tư liên tịch trong lĩnh vực tài chính

Bộ Tài chính bãi bỏ 32 thông tư liên tịch trong lĩnh vực tài chính

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 166/2026/TT-BTC bãi bỏ một số thông tư liên tịch do Bộ trưởng Bộ Tài chính liên tịch ban hành liên quan đến lĩnh vực tài chính. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/12/2026.
Cán cân thanh toán quốc tế BOP trở lại thặng dư, sức ép tỷ giá chưa vơi

Cán cân thanh toán quốc tế BOP trở lại thặng dư, sức ép tỷ giá chưa vơi

(TBTCO) - Loạt ngân hàng trung ương các nền kinh tế lớn phát tín hiệu tăng lãi suất, gia tăng sức ép lên tỷ giá và dòng vốn quốc tế. Dù nhiều cấu phần vẫn chịu áp lực, cán cân thanh toán quốc tế (BOP) quý II/2026 của Việt Nam vẫn thặng dư 81 triệu USD, cùng những tín hiệu tích cực gần đây mở ra kỳ vọng giảm sức ép tỷ giá, củng cố dự trữ ngoại hối.
Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm BSH lãi trước thuế 61,9 tỷ đồng, đảo chiều so với cùng kỳ, hoàn thành 126% kế hoạch. Dù phí bảo hiểm gốc giảm, lợi nhuận gộp kinh doanh bảo hiểm vẫn gấp hơn 5,3 lần, đạt kỷ lục 114,4 tỷ đồng. Danh mục đầu tư tài chính gần 2.200 tỷ đồng tiếp tục đóng góp vào nguồn thu.
Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

(TBTCO) - Công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo (AI) và các mô hình tài chính số đang mở ra cơ hội nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ. Tuy nhiên, để đổi mới bền vững, hệ thống tài chính cần tăng cường quản trị rủi ro, bảo đảm an toàn vận hành và nâng cao khả năng phục hồi trước những sự cố công nghệ.
PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa gia hạn đăng ký và nộp tiền mua cổ phiếu đến ngày 14/12/2026. Trong đợt 1, ngân hàng dự kiến phát hành 150 triệu cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động tối đa 1.500 tỷ đồng. Động thái này diễn ra trong bối cảnh PGBank đang mở rộng quy mô hoạt động, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt 630 tỷ đồng, tăng 27%.
Dự kiến chấm điểm, xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân theo phương pháp mới từ năm 2028

Dự kiến chấm điểm, xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân theo phương pháp mới từ năm 2028

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng dự thảo Thông tư mới về xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân, dự kiến thực hiện từ năm 2028 trên cơ sở số liệu kiểm toán năm 2027. Điểm mới là chuyển từ thang 100 điểm sang 4 điểm, kết hợp đánh giá định lượng và định tính, đồng thời bổ sung, điều chỉnh nhiều chỉ tiêu và trọng số đánh giá.
Các ngân hàng niêm yết lãi hơn 310.000 tỷ đồng sau 9 tháng, kịch tính những màn bứt tốc và đổi ngôi

Các ngân hàng niêm yết lãi hơn 310.000 tỷ đồng sau 9 tháng, kịch tính những màn bứt tốc và đổi ngôi

(TBTCO) - Lợi nhuận trước thuế của 28 ngân hàng niêm yết đạt gần 312.000 tỷ đồng sau 9 tháng năm 2026, tăng 19,8% cùng kỳ. Đằng sau đà tăng trưởng là cuộc đua thứ hạng sôi động, với những màn bứt tốc, đổi ngôi ngay trong nhóm dẫn đầu. Tuy nhiên, bức tranh lợi nhuận vẫn phân hóa rõ nét khi 24 ngân hàng tăng lãi, 4 nhà băng đi lùi.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 ▲180K 14,240 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 13,940 ▲180K 14,240 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 13,940 ▲180K 14,240 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,680 ▲150K 14,080 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,680 ▲150K 14,080 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,680 ▲150K 14,080 ▲150K
Trang sức 99.9 13,360 ▲150K 13,960 ▲150K
Trang sức 99.99 13,370 ▲150K 13,970 ▲150K
Vàng 99.9 12,650
Vàng 99.99 12,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,394 ▲18K 14,242 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,394 ▲18K 14,243 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 ▲28K 1,405 ▲28K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 ▲28K 1,406 ▲28K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,345 ▲28K 1,395 ▲28K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,119 ▲2772K 138,119 ▲2772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,985 ▲2100K 104,785 ▲2100K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,219 ▲1904K 95,019 ▲1904K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,454 ▲1709K 85,254 ▲1709K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,687 ▲1633K 81,487 ▲1633K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,527 ▲43791K 58,327 ▲52611K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Cập nhật: 04/11/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17491 17764 18340
CAD 17883 18157 18776
CHF 30801 31178 31825
CNY 0 3809 3906
EUR 28289 28505 29585
GBP 33850 34240 35175
HKD 0 3146 3348
JPY 155 159 166
KRW 0 18 20
NZD 0 14161 14753
SGD 19571 19852 20422
THB 679 742 796
USD (1,2) 25447 0 0
USD (5,10,20) 25484 0 0
USD (50,100) 25511 25525 25895
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,550 25,550 25,930
USD(1-2-5) 24,528 - -
USD(10-20) 24,528 - -
EUR 28,331 28,354 29,704
JPY 158.27 158.56 168.19
GBP 34,022 34,114 35,300
AUD 17,648 17,712 18,386
CAD 18,079 18,137 18,810
CHF 31,091 31,188 32,119
SGD 19,701 19,762 20,540
CNY - 3,780 3,926
HKD 3,214 3,224 3,360
KRW 17.68 18.44 20.06
THB 728.59 737.59 789.86
NZD 14,116 14,247 14,675
SEK - 2,593 2,686
DKK - 3,801 3,936
NOK - 2,732 2,830
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,912.26 - 6,675.92
TWD 708.02 - 857.89
SAR - 6,739.23 7,100.3
KWD - 81,354 86,581
AED - 6,753 7,278
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,550 25,580 25,960
EUR 28,312 28,454 29,683
GBP 33,980 34,151 35,187
HKD 3,211 3,230 3,347
CHF 30,923 31,078 32,026
JPY 157.83 159.42 167.40
AUD 17,585 17,709 18,304
SGD 19,674 19,853 20,449
THB 732 747 784
CAD 18,028 18,155 18,752
NZD 14,167 14,720
KRW 18.50 20.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25530 25530 25890
AUD 17683 17783 18708
CAD 18079 18179 19191
CHF 31092 31122 32703
CNY 3792.4 3817.4 3952.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28502 28532 30257
GBP 34188 34238 35996
HKD 0 3300 0
JPY 158.83 159.33 169.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14293 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19741 19871 20592
THB 0 709 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12000000 12000000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,445 25,565 25,900
USD20 25,415 25,565 25,900
USD1 25,395 25,565 25,900
AUD 17,558 17,708 18,875
EUR 28,256 28,356 30,014
CAD 18,020 18,120 19,428
SGD 19,813 19,963 20,517
JPY 159.73 161.23 166.8
GBP 34,034 34,184 35,496
XAU 13,818,000 0 14,122,000
CNY 0 3,773 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/11/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30