Mô hình sanbox cho dịch vụ ngân hàng mới:

“Vừa ném đá vừa dò đường”

Chí Tín
(TBTCO) - Giữa tháng 11/2021, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục cấp phép thêm 1 doanh nghiệp dịch vụ trung gian thanh toán, góp thêm cho sự đông đảo của loại hình kinh doanh này. Với những loại hình mới đa dạng, việc thử nghiệm đặt ra những yêu cầu cần hoàn thiện hệ thống chính sách, nhưng vẫn phải đảm bảo kiểm soát tốt rủi ro.
aa

Công nghệ tài chính sẽ phát triển mạnh

Việc mới có thêm 1 công cụ trong dịch vụ thanh toán đã đưa số doanh nghiệp dịch vụ trung gian thanh toán lên 44 doanh nghiệp không phải ngân hàng tham gia dịch vụ này. Theo Hiệp hội Ngân hàng, hiện nay cả nước có khoảng trên 80.000 điểm QR code thanh toán, 78 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán qua internet, 49 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán di động, 30 ngân hàng thương mại và 6 tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán phối hợp triển khai.

“Vừa ném đá vừa dò đường”

Hiện nay cả nước có khoảng trên 80.000 điểm QR code thanh toán.

Một số dịch vụ mới đã dần hòa nhập với đời sống. Người dân đã bước đầu chấp nhận và sử dụng các phương thức thanh toán trực tuyến. Nhu cầu và thói quen tiêu dùng của người dân cũng đang chuyển hướng từ ngoại tuyến (offline) sang không gian trực tuyến (online). Xu hướng này diễn ra đồng thời cùng với sự bùng nổ của các sàn thương mại điện tử và bối cảnh phải trải qua các đợt giãn cách xã hội để ứng phó dịch Covid-19.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện thời gian qua, theo phản ánh của những người trong cuộc, việc tổ chức cần có hệ thống khoa học hơn để tăng hiệu quả hoạt động của các đơn vị kinh doanh cũng như khả năng đáp ứng các nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội.

Ông Nguyễn Đăng Hùng - Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam (Napas) cho biết, hiện nay để thuận tiện cho các tổ chức thanh toán và ngân hàng, nhiều ngân hàng cho rằng nên để các bên kết nối thông qua một đầu mối thống nhất là Napas. Điều này tránh việc 1 tổ chức trung gian thanh toán phải kết nối với nhiều ngân hàng và 1 ngân hàng cũng phải kết nối nhiều tổ chức trung gian thanh toán.

Tuy nhiên, một số ngân hàng thời gian qua cũng đã rà soát các khung khổ pháp lý thấy rằng, các quy định pháp lý về việc này chưa rõ ràng lắm. Do đó, ông Hùng cho rằng, Ngân hàng Nhà nước thời gian tới cần làm rõ các quy định pháp lý để các trung gian thanh toán, các ngân hàng và Napas triển khai việc kết nối thuận lợi trên thực tế, tránh những rủi ro có thể phát sinh về mặt pháp lý.

Ném đá dò đường

Thực tế, nhu cầu của người dân và ứng dụng công nghệ đều đang phát triển với tốc độ rất nhanh làm xuất hiện nhiều mô hình kinh doanh mới thời gian qua. Ví dụ mô hình cho vay ngang hàng (P2P lending), chuyển tiền xuyên biên giới, quản lý tài chính cá nhân, chia sẻ dữ liệu người dùng… Tất cả doanh nghiệp kinh doanh những lĩnh vực này đều hoạt động trong trạng thái chưa rõ ràng về mặt pháp lý. Điều này khiến cả doanh nghiệp và khách hàng đều gặp lúng túng khi thực hiện lẫn cung ứng dịch vụ.

Bà Nguyễn Thị Phương Lan - đại diện Trung tâm Thông tin tín dụng tư nhân cho biết, càng ngày quyền của khách hàng bảo vệ thông tin cá nhân càng được các cơ quan nhà nước chú trọng. Tuy nhiên, mâu thuẫn hiện nay đang nảy sinh là nếu giữ thông tin khách hàng quá nhiều thì cũng có thể khó khăn cho các ngân hàng thu thập dữ liệu khách hàng để đánh giá rủi ro. Do đó, quy định pháp lý cũng cần làm rõ những vấn đề này.

Những vấn đề mới phát sinh tương tự nêu trên theo đó đặt ra yêu cầu về quản lý nhà nước, thể hiện cả 2 mặt, vừa không thể thả lỏng để không bị nảy sinh những rủi ro ngoài kiểm soát, nhưng cũng không thể bóp nghẹt những nhu cầu mới của xã hội.

Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước, hiện tại cơ quan này đang xây dựng Nghị định thay thế Nghị định 101/2012/NĐ-CP (về thanh toán không dùng tiền mặt), đồng thời xây dựng thông tư thay thế Thông tư 39/2014/TT-NHNN (hướng dẫn về trung gian thanh toán) để ban hành ngay khi nghị định thay thế này có hiệu lực.

Nghị định 101 là văn bản pháp lý quy định về hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, bao gồm: mở và sử dụng tài khoản thanh toán; dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt; dịch vụ trung gian thanh toán; tổ chức, quản lý và giám sát các hệ thống thanh toán. Tuy nhiên, nghị định này đã ban hành nhiều năm nay, trong thời gian đó, nhu cầu thị trường và phát triển công nghệ đã thay đổi nhiều nên yêu cầu hiện tại cần có những quy định pháp lý có tính bao quát hơn để điều tiết các vấn đề mới.

Tuy nhiên, bên cạnh việc tạo sự thông thoáng đáp ứng các yêu cầu mới, chính các ngân hàng cũng tỏ ra thận trọng để hạn chế rủi ro. Chẳng hạn, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép hạn mức mở ví điện tử trực tuyến tối đa lên tới 100 triệu đồng, nhưng nhiều ngân hàng áp dụng mức thấp hơn, thường điều chỉnh theo tín nhiệm khách hàng. Trước bối cảnh hiện nay, cơ chế được các chuyên gia đặt ra vẫn là mở, nhưng trên quan điểm thận trọng, từng bước theo dõi ảnh hưởng cả mặt tích cực lẫn tiêu cực của từng mô hình, dịch vụ để có những giải pháp thích hợp tiếp theo.

Một số dịch vụ tài chính vẫn đang được thí điểm theo mô hình sandbox

Theo nghĩa đen, sandbox là “ô cát”. Về mặt chính sách, sandbox là cơ chế thử nghiệm hoặc thí điểm các chính sách, ý tưởng hoặc mô hình kinh doanh mới trong phạm vi và thời gian xác định, dưới sự giám sát của các nhà quản lý để đánh giá, kiểm nghiệm và điều chỉnh trước khi trở thành một chính sách chung.

Theo đó, đây là một cơ chế giúp nhà lập chính sách cho phép nuôi dưỡng một ý tưởng mới mà không dập tắt nó ngay từ đầu, ngay cả khi chưa có cơ chế quản lý nó. Công thức lý tưởng để thực hiện mô hình sandbox là: Trước tiên, cứ để cho doanh nghiệp tự do thực hành ý tưởng kinh doanh của họ; kế tiếp mới là cơ quan quản lý theo dõi, từng bước thích nghi, ra chính sách và biện pháp quản lý phù hợp.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, USD tự do giảm mạnh hơn 100 đồng

Tỷ giá USD hôm nay (6/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, USD tự do giảm mạnh hơn 100 đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 6/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.106 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại ngân hàng dao động 23.850,7 - 26.361,3 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY đi ngang quanh 100,03 điểm, cho thấy USD tạm ổn định khi thị trường thận trọng chờ tín hiệu mới về lạm phát, chính sách Fed và rủi ro địa chính trị.
Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 5/4 không thay đổi so với phiên trước đó, với mức giá phổ biến quanh vùng 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng xanh, hệ thống ngân hàng đang ngày càng thể hiện rõ vai trò “dẫn dắt dòng vốn” trong việc đồng hành cùng các dự án trọng điểm tại địa phương, góp phần tạo nên các động lực tăng trưởng mới theo hướng phát triển bền vững.
Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

(TBTCO) - Ngày 4/4, giá vàng trong nước hiện đang ghi nhận tăng tại nhiều doanh nghiệp, với cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh tăng, phổ biến quanh 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/4, tỷ giá trung tâm kết tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; lũy kế tăng 7 đồng tuần qua; trong khi tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại ổn định quanh ngưỡng trần 26.362 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY duy trì trên 100 điểm, phản ánh sức mạnh USD nhưng đà tăng chậm lại trong bối cảnh thị trường thận trọng trước dữ liệu lạm phát Mỹ và rủi ro địa chính trị.
TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

(TBTCO) - Mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng năm 2026, tăng 12% của TPBank không chỉ là bài toán tăng trưởng. Điều đáng chú ý nằm ở cách ngân hàng đang xây dựng động lực phía sau con số đó.
Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

(TBTCO) - Phòng xử lý nợ - Khối Quản trị rủi ro thuộc ngân hàng Sacombank vừa thông báo thu giữ tài sản bảo đảm khoản nợ xấu của Bamboo Airways. Tài sản bảo đảm là 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại dự án ở Gia Lai, thuộc sở hữu Tập đoàn FLC. Ngân hàng sẽ tiến hành thu giữ từ 22/4 đến 22/6/2026.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,010 ▼90K 17,310 ▼140K
Kim TT/AVPL 17,020 ▼90K 17,320 ▼140K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,010 ▼90K 17,310 ▼140K
Nguyên Liệu 99.99 15,900 ▲250K 16,100 ▲250K
Nguyên Liệu 99.9 15,850 ▲250K 16,050 ▲250K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,700 ▲150K 17,100 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,650 ▲150K 17,050 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,580 ▲150K 17,030 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,000 ▼400K 172,000 ▼900K
Hà Nội - PNJ 169,000 ▼400K 172,000 ▼900K
Đà Nẵng - PNJ 169,000 ▼400K 172,000 ▼900K
Miền Tây - PNJ 169,000 ▼400K 172,000 ▼900K
Tây Nguyên - PNJ 169,000 ▼400K 172,000 ▼900K
Đông Nam Bộ - PNJ 169,000 ▼400K 172,000 ▼900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,010 ▼90K 17,310 ▼140K
Miếng SJC Nghệ An 17,010 ▼90K 17,310 ▼140K
Miếng SJC Thái Bình 17,010 ▼90K 17,310 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,990 ▼110K 17,290 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,990 ▼110K 17,290 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,990 ▼110K 17,290 ▼160K
NL 99.90 15,570 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,600 ▼100K
Trang sức 99.9 16,480 ▼160K 17,180 ▼160K
Trang sức 99.99 16,490 ▼160K 17,190 ▼160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,701 ▼14K 17,312 ▼140K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,701 ▼14K 17,313 ▼140K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,699 ▼14K 1,729 ▼14K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,699 ▼14K 173 ▼1571K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,679 ▼14K 1,714 ▼14K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,203 ▼1386K 169,703 ▼1386K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,813 ▼1050K 128,713 ▼1050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,814 ▼952K 116,714 ▼952K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,814 ▼855K 104,714 ▼855K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,186 ▼816K 100,086 ▼816K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,731 ▼584K 71,631 ▼584K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,701 ▼14K 1,731 ▼14K
Cập nhật: 06/04/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17665 17938 18516
CAD 18364 18640 19258
CHF 32264 32647 33282
CNY 0 3470 3830
EUR 29723 29995 31025
GBP 34009 34399 35333
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14712 15299
SGD 19934 20217 20744
THB 723 787 840
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26361
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,141 26,141 26,361
USD(1-2-5) 25,096 - -
USD(10-20) 25,096 - -
EUR 29,892 29,916 31,156
JPY 160.99 161.28 169.96
GBP 34,231 34,324 35,303
AUD 17,874 17,939 18,512
CAD 18,591 18,651 19,221
CHF 32,562 32,663 33,428
SGD 20,096 20,158 20,828
CNY - 3,766 3,885
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.14 16.83 18.2
THB 771.01 780.53 830.53
NZD 14,709 14,846 15,188
SEK - 2,738 2,818
DKK - 4,001 4,116
NOK - 2,654 2,732
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,123.43 - 6,870.24
TWD 744.55 - 896.42
SAR - 6,917.51 7,241.74
KWD - 83,780 88,593
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,141 26,361
EUR 29,746 29,865 31,038
GBP 34,127 34,264 35,261
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,283 32,413 33,322
JPY 161.08 161.73 168.99
AUD 17,806 17,878 18,462
SGD 20,102 20,183 20,758
THB 786 789 823
CAD 18,539 18,613 19,172
NZD 14,742 15,268
KRW 16.74 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26361
AUD 17834 17934 18860
CAD 18543 18643 19655
CHF 32487 32517 34099
CNY 3766.8 3791.8 3927
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29893 29923 31650
GBP 34291 34341 36094
HKD 0 3355 0
JPY 161.57 162.07 172.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14813 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20948
THB 0 752.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17010000 17010000 17310000
SBJ 16000000 16000000 17310000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,361
USD20 26,167 26,217 26,361
USD1 26,167 26,217 26,361
AUD 17,880 17,980 19,089
EUR 30,038 30,038 31,451
CAD 18,493 18,593 19,898
SGD 20,169 20,319 21,335
JPY 162 163.5 168.05
GBP 34,186 34,536 35,403
XAU 17,008,000 0 17,312,000
CNY 0 3,677 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/04/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80