Bán vàng qua ngân hàng - bước đầu đã hạ nhiệt thị trường

Chí Tín
(TBTCO) - Diễn biến những ngày đầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện bán vàng miếng trực tiếp đến người dân qua hệ thống các ngân hàng thương mại Nhà nước và Công ty SJC, thị trường vàng đã hạ nhiệt. Một số chuyên gia cũng cảnh báo người dân cần hết sức thận trọng do giá vàng có thể còn giảm bởi Ngân hàng Nhà nước vẫn đang tiếp tục “bơm” thêm vàng ra thị trường qua hình thức này trong thời gian tới.
aa
Bán vàng qua ngân hàng - bước đầu đã hạ nhiệt thị trường
Người dân lấy số xếp hàng chờ mua vàng tại ngân hàng khi giá hạ nhiệt. Ảnh tư liệu

Giá vàng hạ nhiệt

Trước và sau thời điểm các ngân hàng thương mại chính thức thực hiện chủ trương mới của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là bán vàng miếng SJC trực tiếp đến người dân, giá vàng đã bước vào nhịp giảm

Cụ thể, chủ trương mới của NHNN bắt đầu được công bố cuối tuần trước và chính thức thực hiện chiều ngày 3/6. Theo hình thức này, NHNN bán vàng trực tiếp cho người dân thông qua kênh của 4 ngân hàng thương mại nhà nước gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và Vietinbank. Sau đó, NHNN tiếp tục công bố thêm một kênh bán vàng nữa là kênh của chính Công ty SJC. Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa SJC với các ngân hàng ở chỗ, các ngân hàng chỉ bán ra không mua vào còn SJC có thể tham gia thị trường ở cả 2 chiều cả mua lẫn bán.

Giá tham chiếu giảm phiên thứ hai

Trong phiên thứ hai thực hiện bán vàng qua ngân hàng (ngày 4/6), ngân hàng nhà nước công bố giá tham chiếu bán vàng cho các ngân hàng là 77,98 triệu đồng/lượng, giảm 1 triệu đồng/lượng so với hôm trước. Ngày 4/6 với giá tham chiếu mới, các ngân hàng thương mại công bố vàng miếng SJC bán ra ở mức 78,98 triệu đồng/lượng, thấp hơn hôm trước 1 triệu đồng/lượng.

Trước thông tin NHNN bán ra vàng trực tiếp qua hệ thống các ngân hàng, thị trường trong nước đã điều chỉnh giảm mạnh. Đến sáng ngày 3/6, tức ngay trước khi chính thức bán vàng theo hình thức mới, giá vàng SJC 9999 tại các cửa hàng vàng niêm yết ghi nhận ở mức 79 triệu đồng/lượng mua vào và 81 triệu đồng/lượng bán ra.

Đến sáng 3/6, NHNN cũng chính thức công bố giá vàng miếng do NHNN bán ra cụ thể là 78,98 triệu đồng/lượng, với giá tham chiếu này, các ngân hàng thương mại và SJC bán ra cho người dân với mức giá phổ biến là 79,88 triệu đồng/lượng. Đây là mức giá nằm ở khoảng giữa của giá mua vào và bán ra tại các cửa hàng vàng tại cùng thời điểm. Diễn biến này cũng nằm trong dự báo của một số chuyên gia cho rằng, NHNN khi bán vàng ra thị trường vẫn phải bán với giá tham chiếu của thị trường nội địa, chứ không có chuyện NHNN bán vàng theo giá vàng thế giới.

Rủi ro “bắt dao rơi”

Mặc dù NHNN vẫn thực hiện giá tham chiếu để bán vàng ra dựa trên giá thực tế thị trường, nhưng diễn biến cụ thể sau động thái bán vàng qua hình thức mới đang cho thấy một số diễn biến khác đi khá nhiều so với thời điểm thực hiện hình thức đấu thầu vàng cách đây một tháng. Ngoài yếu tố ảnh hưởng tâm lý dẫn đến tự thị trường đã điều chỉnh giảm mạnh ngay trước khi chính thức bán vàng, thì nhu cầu mua trong ngày đầu bán vàng cũng được hút vào các kênh bán vàng của các ngân hàng.

Điều này cũng phù hợp bởi các ngân hàng bán vàng ra với giá bình quân giá mua vào/bán ra, vì thế người dân mua vàng tại mức giá này cũng rẻ hơn 1 triệu đồng/lượng so với giá bán ra niêm yết tại các cửa hàng vàng. Theo đó, ghi nhận tại thị trường cho thấy, số lượng người đến mua vàng tại các điểm bán vàng của các ngân hàng thì khá đông đúc, trong khi không khí tại các cửa hàng vàng thì khá vắng vẻ. Với diễn biến này, sáng ngày 4/6, các cửa hàng vàng đã tiếp tục phải điều chỉnh giá vàng bán ra giảm xuống ngang với mức giá bán tại các ngân hàng chiều hôm trước.

Diễn biến trên cho thấy, giải pháp mới của NHNN đã bước đầu có những kết quả rõ ràng hơn so với giải pháp đấu thầu vàng. Đánh giá về việc này, ông Phan Lê Thành Long - Chuyên gia tài chính - CEO AFA Group, lần này các ngân hàng và SJC đã thực hiện bán vàng thẳng cho người dân, như vậy cung đi thẳng đến đối tượng có nhu cầu. Việc này giúp người dân thỏa mãn được cơn khát về vàng, tâm lý họ cũng giảm bớt tâm lý lo lắng về việc sợ giá vàng “nhảy múa” như thời điểm trước.

Đánh giá về phương án hiện tại của NHNN, ông Trương Văn Phước - nguyên quyền chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho biết, với cách này, NHNN sẽ làm chủ quá trình thu hẹp chênh lệch giá, tức là khoảng cách chênh lệch giá trong nước và nước ngoài sẽ dần được thu hẹp.

Với những dự đoán như trên của các chuyên gia và xu hướng thực tế của thị trường, giá vàng đang có tín hiệu điều chỉnh giảm dần bởi nếu các ngân hàng tuy vẫn bán vàng ra theo giá thị trường (chứ không phải bán theo giá thế giới), nhưng giá thị trường đó là giá bình quân của giá mua vào/bán ra thì giá thực tế người dân mua được vàng từ ngân hàng sẽ luôn rẻ hơn giá họ phải mua từ cửa hàng vàng. Điều này sẽ luôn tạo áp lực các cửa hàng vàng phải điều chỉnh giá bán ra theo giá bán ra của ngân hàng. Diễn biến này khiến cho các nhà đầu cơ vàng phải đối diện với rủi ro “bắt dao rơi”, tức thua lỗ sau khi mua nếu thị trường cứ tiếp tục đi xuống, theo đó, tâm lý “hào hứng” với vàng có thể sẽ hạ nhiệt.

Mặc dù vậy, tâm lý thị trường cũng có thể “đảo chiều” nếu như giá vàng dần giảm xuống tiệm cận với giá thế giới, vì khi đó sẽ lại có thể xuất hiện làn sóng “bắt đáy”. Bình luận về việc này, ông Trương Văn Phước cho biết, cũng có ý kiến rằng nếu giá trong nước mà giảm về sát giá thế giới thì có thể mọi người sẽ quay lại đổ dồn mua vàng. Đây là một loại phản biện chính sách mà NHNN cần có lý giải, hơn thế nữa cũng cần có các phương án xử lý nếu hiện tượng này xảy ra.

Thực hiện chủ trương bán vàng miếng SJC theo phương án mới, các ngân hàng thương mại và Công ty SJC đã công bố công khai các địa điểm bán vàng miếng trực tiếp cho người dân.

Vietcombank triển khai bán vàng tại 6 điểm giao dịch:

- Hà Nội: Số 11 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình; 11B Cát Linh, 72 Trần Hưng Đạo.

- TP. Hồ Chí Minh: Số 5 Công trường Mê Linh, 23 Nguyễn Hữu Thọ, 50A Đặng Văn Bi.

Vietinbank triển khai bán tại hệ thống cửa hàng của VietinBank Gold & Jewellery:

- Hà Nội: 81 Phố Huế, 114 Mai Hắc Đế

- TP. Hồ Chí Minh: 93 - 95 Hàm Nghi.

Agribank tổ chức bán tại 4 điểm:

- Hà Nội: Số 2 Láng Hạ, 77 Lạc Trung.

- TP. Hồ Chí Minh: Số 2 Võ Văn Kiệt, 28 Mạc Thị Bưởi.

BIDV thực hiện tại 3 địa điểm:

- Hà Nội: 191 Bà Triệu, 74 Thợ Nhuộm.

- TP. Hồ Chí Minh: 134 Nguyễn Công Trứ.

Công ty SJC có nhiều địa điểm nhất:

- Tại Thành phố Hà Nội: 50 Giang Văn Minh, 101 - 102 A49 Thái Thịnh, 27B Phan Đình Phùng, 18 Trần Nhân Tông.

- Tại Thành phố Hồ Chí Minh: 418 - 420 Nguyễn Thị Minh Khai, 230-230A Quang Trung, 172 Nguyễn Văn Nghi, 05/2A Quốc lộ 22 (huyện Hóc Môn).

- Tại Thành phố Hải Phòng: 89-91 Cầu Đất

- Quảng Ninh: Vincom Plaza Hạ Long, SH8 đường Trần Hưng Đạo.

- Tại Thành phố Nha Trang: 13 Ngô Gia Tự, 423 đường 2/4.

- Tại Thành phố Huế: Số 7 Hùng Vương.

- Tại Thành phố Quảng Ngãi: 222 Lê Trung Đình.

- Tại Biên Hòa – Đồng Nai: 216 đường 30/4.

- Tại Thành phố Cần Thơ: 135 Trần Hưng Đạo.

- Tại Thành phố Bạc Liêu: 205 Trần Phú.

- Tại Thành phố Cà Mau: 4A-5A Hùng Vương, Số 9, Trần Hưng Đạo.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 25/9: Vàng thế giới và trong nước cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 25/9: Vàng thế giới và trong nước cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giảm xuống 4.271 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, trong đó vàng miếng giảm tới 1,1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/9: Vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/9: Vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce, lùi về 4.295 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng chốt phiên trước tăng tới 600.000 đồng/lượng, lên 145,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.358 USD/ounce, giảm 33 USD so với cùng thời điểm hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 142,500
Hà Nội - PNJ 139,500 142,500
Đà Nẵng - PNJ 139,500 142,500
Miền Tây - PNJ 139,500 142,500
Tây Nguyên - PNJ 139,500 142,500
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 142,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,950 14,250
Miếng SJC Nghệ An 13,950 14,250
Miếng SJC Thái Bình 13,950 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,850 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,850 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,850 14,250
NL 99.99 13,300
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,395 14,252
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,395 14,253
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 139 142
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 139 1,421
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,365 141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,604 139,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,111 105,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,624 9,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,369 86,169
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,561 82,361
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,153 58,953
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 1,425
Cập nhật: 30/09/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17643 17916 18492
CAD 17766 18040 18659
CHF 30521 30897 31550
CNY 0 3832 3928
EUR 28844 29062 30146
GBP 33580 33968 34906
HKD 0 3179 3382
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14380 14968
SGD 19787 20069 20640
THB 690 753 806
USD (1,2) 25709 0 0
USD (5,10,20) 25748 0 0
USD (50,100) 25776 25790 26160
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,790 25,790 26,170
USD(1-2-5) 24,759 - -
USD(10-20) 24,759 - -
EUR 28,893 28,916 30,289
JPY 160.48 160.77 170.51
GBP 33,755 33,846 35,018
AUD 17,824 17,888 18,564
CAD 17,962 18,020 18,683
CHF 30,754 30,850 31,763
SGD 19,889 19,951 20,735
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.63 18.39 20.02
THB 737.62 746.73 799.31
NZD 14,353 14,486 14,919
SEK - 2,554 2,644
DKK - 3,875 4,012
NOK - 2,663 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,950.98 - 6,716.23
TWD 735.55 - 891.16
SAR - 6,801.44 7,164.49
KWD - 82,145 87,410
AED - 6,817 7,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 28,988 29,104 30,304
GBP 33,802 33,938 34,958
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,695 30,818 31,745
JPY 161.21 161.86 169.84
AUD 17,879 17,951 18,542
SGD 19,983 20,063 20,655
THB 754 757 794
CAD 17,992 18,064 18,651
NZD 14,464 15,004
KRW 18.30 20.28
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26160
AUD 17780 17880 18810
CAD 17940 18040 19054
CHF 30714 30744 32325
CNY 3814.4 3839.4 3974.6
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28986 29016 30742
GBP 33851 33901 35653
HKD 0 3315 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14452 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19925 20055 20776
THB 0 717.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12000000 12000000 14350000
Cập nhật: 30/09/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30