Cho vay nông nghiệp - nông thôn, bí quyết thúc đẩy tín dụng của HDBank

Minh Đức
(TBTCO) - Theo báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm 2023, tăng trưởng tín dụng của Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; mã chứng khoán: HDB) đã đạt 9,3%, gấp đôi bình quân toàn ngành. Vậy đâu là cơ sở giúp HDBank đạt được mức tăng trưởng tín dụng khả quan này?
aa
Cho vay nông nghiệp - nông thôn, bí quyết thúc đẩy tín dụng của HDBank
Khách hàng giao dịch tại HDBank. Ảnh: HDB

Tập trung cho nông nghiệp - nông thôn

Theo báo cáo tài chính, quý II/2023, HDBank tiếp tục đạt những thành quả kinh doanh nổi bật so với ngành. Cụ thể, đến ngày 30/6/2023, tổng tài sản của HDBank đã đạt 483.936 tỷ đồng, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước; tổng huy động vốn đạt 430.123 tỷ đồng, tăng 17,4% so với đầu năm, trong đó huy động từ khách hàng đạt 309.645 tỷ đồng, tăng 44%.

Đáng chú ý, tổng dư nợ của HDBank đạt trên 293.129 tỷ đồng, tăng 9,3% so với đầu năm. Việc giữ được nhịp tăng trưởng tín dụng, động lực số hóa tiếp tục mở rộng giúp gia tăng mạnh mẽ lượng khách hàng mới và tối ưu hóa vận hành, lũy kế 6 tháng đầu năm HDBank đã đạt gần 5.500 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế. Nếu duy trì được hướng tăng trưởng lợi nhuận hiện tại, 2023 sẽ là năm thứ 10 liên tiếp HDBank tăng trưởng liên tục.

Mức tăng trưởng liên tục của HDBank có được nhờ ngân hàng đã và đang đi con đường đúng hướng: tập trung cho vay nông nghiệp, nông thôn.

Không phải ngẫu nhiên hình ảnh bông lúa và những người nông dân được lựa chọn trang trọng trên bìa chính Báo cáo thường niên 2022. Chia sẻ sau đó tại đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên 2023, đại diện lãnh đạo HDBank lý giải, nông nghiệp - nông thôn và các đô thị loại 2 chính là một trong các phân khúc chiến lược, có sức hấp thụ tín dụng tốt và đầy tiềm năng. Những năm qua, HDBank liên tiếp mở mới chi nhánh ở các địa bàn xa, phủ sản phẩm dịch vụ tới tận cả các vùng cao như: Cao Bằng, Điện Biên, Hà Giang...

Theo chia sẻ của đại diện lãnh đạo HDBank, nông nghiệp và nông thôn luôn là trụ đỡ cho nền kinh tế, gắn với đặc thù thế mạnh của Việt Nam. Vai trò này càng khẳng định trong khủng hoảng Covid-19 vừa qua, hay trong giai đoạn thử thách hiện nay. Bên cạnh sức hấp thụ vốn tốt, khu vực rộng lớn này tạo cơ hội để phát triển các giải pháp trong quản lý dòng tiền và cho vay theo chuỗi, triển khai những tiện ích công nghệ và số hóa.

Tại thị trường nông nghiệp - nông thôn, HDBank đã triển khai thành công tài trợ các chuỗi có quy mô lớn như: chuỗi Lộc Trời, chuỗi CP, chuỗi Unilever… Đây cũng là khu vực tập trung khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), các hộ gia đình kinh doanh mà HDBank đang dành tới 143.000 tỷ đồng, tương đương hơn 52% tổng dư nợ để đáp ứng, tính đến thời điểm ngày 30/6/2023.

Đầu tư cho trụ cột của nền kinh tế

Không phải đến bây giờ HDBank mới coi cho vay nông nghiệp – nông thôn là trụ đỡ quan trọng trong cơ cấu tín dụng. Hơn chục năm trước, khi sáp nhập DaiABank, chính nông nghiệp và nông thôn đã tạo một trụ đỡ quan trọng cho hiệu quả. DaiABank khi đó đã phát triển sâu ở khu vực Đông Nam Bộ, sau sáp nhập có thêm nguồn lực để khẳng định vị thế và hiệu quả tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Phân khúc nông nghiệp và nông thôn có gốc rễ gắn chặt từ hơn chục năm trước, lan tỏa sức mạnh để gia tăng tỷ trọng đóng góp cho HDBank đến nay. Thậm chí khu vực Đông Nam Bộ hiện đã đứng thứ 3 toàn hệ thống ngân hàng này.

Nông nghiệp và nông thôn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của một quốc gia. Việc đầu tư vào lĩnh vực này không chỉ giúp cải thiện đời sống của người nông dân, mà còn góp phần vào sự ổn định và bền vững của nền kinh tế. Trong việc thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp và nông thôn, việc ngân hàng ưu tiên nguồn vốn cho vay đóng một vai trò vô cùng quan trọng và mang lại nhiều ý nghĩa.

Trong nhiều năm qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng luôn định hướng ngân hàng thương mại tham gia cho vay phát triển lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao và cho vay theo chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị. Bên cạnh các chính sách hỗ trợ dự trữ bắt buộc và lãi suất, năm 2017, NHNN đã ban hành Quyết định số 813/QĐ-NHNN để điều tiết nguồn vốn cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực kinh tế mà Việt Nam có nhiều lợi thế.

Hưởng ứng định hướng đó của NHNN, HDBank nhiều năm qua chủ trương đẩy mạnh cung cấp sản phẩm, dịch vụ trong lĩnh vực động lực của nền kinh tế trong đó có nông nghiệp nông thôn, tín dụng xanh, sản xuất kinh doanh, năng lượng tái tạo, nông nghiệp nông thôn, các hoạt động cho vay dự án giảm tiêu hao năng lượng, giảm phát thải CO2, xử lý/tái chế rác…

Ở hướng đi chiến lược này, HDBank còn ký kết hợp tác hàng trăm triệu USD nguồn vốn và hoạt động tư vấn từ nhiều tổ chức quốc tế như IFC (Tập đoàn Tài chính Quốc tế), DEG (Định chế Tài chính Phát triển thuộc Ngân hàng Tái thiết KFW của Đức), Proparco (Tổ chức Tài chính Phát triển của Pháp), Quỹ Đầu tư Quốc tế Affinity… để tiếp động lực tài chính xanh cho ngành nông nghiệp Việt.

Không chỉ giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế bộc lộ nhiều khó khăn và thử thách, mà trước đó, đại dịch Covid-19 hay giai đoạn thị trường tài chính gặp nhiều cú sốc do biến động trong lĩnh vực bất động sản, trái phiếu… nông nghiệp, nông thôn vẫn bền bỉ tăng trưởng và làm trụ cột của nền kinh tế. Đặt chiến lược phát triển gắn với trụ cột này, HDBank đạt mức tăng trưởng bền vững suốt nhiều năm liền.

Thực tế, ngành nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao cần nguồn lực vốn rất lớn để cải tiến công nghệ, máy móc, chuỗi cung ứng… nâng cao năng suất lao động toàn diện. Chính vì thế, tham gia cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao đồng nghĩa với việc ngân hàng đồng hành cùng nông dân, doanh nghiệp không chỉ tạo ra những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao mà còn hỗ trợ ngành dịch chuyển ngành từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại. Cho vay nông nghiệp cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng chung tay cùng Nhà nước trong hành trình xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững…

Thống kê cho thấy, việc tập trung cho vay nông nghiệp, nông thôn bên cạnh việc kiểm soát chặt chẽ các rủi ro, áp dụng toàn diện Basel III, HDBank tiếp tục là ngân hàng đạt mức sinh lời cao bậc nhất hệ thống ngân hàng Việt Nam với ROAA (tỷ suất lợi nhuận trên tài sản trung bình), ROAE (lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân) lần lượt đạt trên 2% và trên 22% trong 6 tháng đầu năm 2023.

Gắn với nông nghiệp - nông thôn, HDBank duy trì tăng trưởng bền vững

Nông nghiệp và nông thôn luôn là trụ đỡ cho nền kinh tế, gắn với đặc thù thế mạnh của Việt Nam. Vai trò này càng khẳng định trong khủng hoảng Covid-19 vừa qua, hay trong giai đoạn nền kinh tế gặp nhiều thử thách như hiện nay. Nhờ đặt chiến lược phát triển gắn với trụ cột này, HDBank đã đạt mức tăng trưởng bền vững suốt nhiều năm liền. Lũy kế 6 tháng đầu năm, HDBank đã đạt gần 5.500 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế. Nếu duy trì được hướng tăng trưởng lợi nhuận hiện tại, 2023 sẽ là năm thứ 10 liên tiếp HDBank tăng trưởng liên tục.

Minh Đức

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên

Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên

(TBTCO) - Trên thị trường tiền tệ tuần qua (15 - 19/6), Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh hơn 54.515,22 tỷ đồng qua kênh OMO, nâng tổng quy mô hút ròng từ đầu tháng 6 lên 106.621 tỷ đồng; dù vậy, lãi suất qua đêm quanh 4%. Trong khi đó, trên thị trường ngoại hối, tỷ giá trung tâm tăng 6 tuần liên tiếp, USD tự do tăng gần 300 đồng và chỉ số DXY lên mức cao nhất kể từ tháng 4/2025.
Nâng chuẩn dịch vụ bảo hiểm từ năng lực bồi thường và công nghệ số

Nâng chuẩn dịch vụ bảo hiểm từ năng lực bồi thường và công nghệ số

(TBTCO) - Trong bối cảnh thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ngày càng cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, năng lực bồi thường và mức độ số hóa đang trở thành thước đo quan trọng đối với uy tín doanh nghiệp. Với Bảo hiểm PVI, hai yếu tố này không chỉ hỗ trợ tăng trưởng, mà còn trực tiếp định hình trải nghiệm khách hàng tại thời điểm rủi ro xảy ra.
Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

(TBTCO) - Sau khi ghi nhận tăng trưởng tín dụng gần 37% trong năm 2025, thuộc nhóm cao nhất hệ thống, bước sang năm 2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 30% và duy trì dư địa tăng trưởng 30 - 35% trong những năm tới. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Phạm Như Ánh - Thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc MB đã chia sẻ về những yếu tố tạo nền tăng trưởng cho MB, định hướng dòng vốn cũng như chiến lược cân bằng giữa mở rộng quy mô và kiểm soát rủi ro.
DBV khẳng định vị thế top 10 công ty bảo hiểm uy tín năm 2026

DBV khẳng định vị thế top 10 công ty bảo hiểm uy tín năm 2026

(TBTCO) - Ngày 18/6, Tập đoàn Bảo hiểm DBV tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường khi được vinh danh Top 10 Công ty Bảo hiểm uy tín năm 2026, bảng xếp hạng thường niên do Vietnam Report phối hợp cùng Báo VietNamNet công bố.
MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

(TBTCO) - Theo báo cáo khảo sát mức độ nhận diện thương hiệu/sản phẩm ngân hàng dành cho khách hàng ưu tiên do Mibrand công bố tháng 6/2026, MB được ghi nhận Top 1 về Top-of-mind (mức độ được nhắc nhớ đầu tiên) đối với thương hiệu Ngân hàng ưu tiên, đồng thời dẫn đầu Top-of-mind ở nhóm sản phẩm vay vốn được Khách hàng ưu tiên lựa chọn.
Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

(TBTCO) - Trong hai ngày 16/6 tại TP. Hồ Chí Minh và 18/6 tại Hà Nội, Công ty TNHH Môi giới bảo hiểm Willis Towers Watson Việt Nam (WTW) đã phối hợp cùng Tập đoàn Bảo hiểm DBV, Tập đoàn Bảo hiểm QBE, Tập đoàn Beazley, Công ty luật Tilleke & Gibbins tổ chức Hội thảo chuyên đề: “Đồng thuận kiểm soát và bồi thường trong quản trị rủi ro an ninh mạng”. Hội thảo thu hút gần 300 doanh nghiệp, tổ chức tham dự.
Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

(TBTCO) - Tổng tài sản do các công ty quản lý quỹ nắm giữ đã đạt khoảng 25 tỷ USD, song quy mô các quỹ bảo hiểm hưu trí mới dưới 100 triệu USD. Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý là bước đi đầu tiên để thúc đẩy thị trường, song cần thêm sự đồng hành của người lao động và doanh nghiệp.
Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

(TBTCO) - Sau gần ba năm áp dụng mức trần 30%, Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại 40%. Đồng thời, điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR, trong đó, cho phép áp dụng một tỷ lệ khác đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từng thời kỳ.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,420 14,720
Kim TT/AVPL 14,420 14,720
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,420 14,720
Nguyên Liệu 99.99 13,050 13,250
Nguyên Liệu 99.9 13,000 13,200
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,200 147,200
Hà Nội - PNJ 144,200 147,200
Đà Nẵng - PNJ 144,200 147,200
Miền Tây - PNJ 144,200 147,200
Tây Nguyên - PNJ 144,200 147,200
Đông Nam Bộ - PNJ 144,200 147,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,420 14,720
Miếng SJC Nghệ An 14,420 14,720
Miếng SJC Thái Bình 14,420 14,720
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 14,700
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 14,590
Trang sức 99.99 13,900 14,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,442 14,722
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,442 14,723
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,421 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,158 144,158
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 109,361
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,668 99,168
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,475 88,975
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,543 85,043
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,371 60,871
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 1,472
Cập nhật: 21/06/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18190 18774
CAD 18058 18333 18954
CHF 31959 32340 32980
CNY 0 3846 3940
EUR 29546 29767 30851
GBP 34019 34409 35350
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14795 15380
SGD 19816 20098 20708
THB 715 778 833
USD (1,2) 26049 0 0
USD (5,10,20) 26090 0 0
USD (50,100) 26119 26133 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,120 26,120 26,440
USD(1-2-5) 25,076 - -
USD(10-20) 25,076 - -
EUR 29,626 29,650 30,991
JPY 158.87 159.16 168.39
GBP 34,131 34,223 35,331
AUD 18,130 18,196 18,837
CAD 18,288 18,347 18,978
CHF 32,244 32,344 33,219
SGD 19,967 20,029 20,774
CNY - 3,819 3,956
HKD 3,295 3,305 3,435
KRW 15.87 16.55 17.98
THB 764.18 773.62 826.06
NZD 14,784 14,921 15,331
SEK - 2,697 2,786
DKK - 3,964 4,094
NOK - 2,658 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,938.99 - 6,688.47
TWD 751.12 - 907.78
SAR - 6,903.31 7,253.83
KWD - 83,464 88,594
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,100 26,120 26,440
EUR 29,598 29,717 30,899
GBP 34,135 34,272 35,282
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 32,152 32,281 33,181
JPY 159.26 159.90 167.66
AUD 18,100 18,173 18,763
SGD 20,044 20,124 20,705
THB 783 786 821
CAD 18,274 18,347 18,901
NZD 14,908 15,442
KRW 16.40 17.97
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26136 26136 26440
AUD 18111 18211 19141
CAD 18258 18358 19370
CHF 32258 32288 33879
CNY 3827.1 3852.1 3988
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29708 29738 31469
GBP 34321 34371 36140
HKD 0 3355 0
JPY 159.67 160.17 170.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14913 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 19998 20128 20861
THB 0 746.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14370000 14370000 14670000
SBJ 13000000 13000000 14670000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,075 26,175 26,440
USD20 26,075 26,175 26,440
USD1 23,922 26,175 26,440
AUD 18,099 18,249 19,387
EUR 29,787 29,837 31,288
CAD 18,144 18,294 19,626
SGD 20,013 20,213 20,802
JPY 160.06 161.56 166.32
GBP 34,151 34,551 35,462
XAU 14,368,000 0 14,672,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 784 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/06/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80