Có được áp dụng 2 Luật Đất đai trong 1 dự án?

(TBTCO) - Hỏi: cụm từ “trường hợp” theo quy định trong Luật Đất đai 2024 và Nghị định số 88/2024/NĐ-CP là dự án triển khai mới từ sau ngày 1/8/2024 hay hộ gia đình, cá nhân ảnh hưởng dự án (đã triển khai theo Luật Đất đai 2013) chưa phê duyệt phương án bồi thường, thu hồi đất?
aa
Tập trung hoàn thiện dự án Luật Đất đai - Ảnh 1.
Ảnh minh họa.

Theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 254 Luật Đất đai năm 2024:

"Điều 254. Quy định chuyển tiếp về thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất khi Luật này có hiệu lực thi hành

1. Đối với trường hợp đã có quyết định thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành nhưng chưa có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì tiếp tục thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Luật này.

2. Đối với trường hợp đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành nhưng chưa thực hiện thì tiếp tục thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã phê duyệt; việc xử lý chi trả bồi thường chậm được thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm nhà nước ban hành quyết định thu hồi đất".

Điều 31 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính phủ quy định:

"Điều 31. Quy định chuyển tiếp

1. Đối với trường hợp đã có quyết định thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì tiếp tục thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Nghị định này.

2. Đối với trường hợp đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa thực hiện thì tiếp tục thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã phê duyệt; việc xử lý chi trả bồi thường chậm được thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm Nhà nước ban hành quyết định thu hồi đất".

Luật Đất đai 2024 và Điều 3 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính phủ quy định dự án phải phê duyệt phương án tổng thể, tuy nhiên theo Luật Đất đai 2013 không quy định điều này.

Bên cạnh đó, nếu "trường hợp" được hiểu là hộ gia đình hay cá nhân thì dẫn đến việc trong cùng dự án sử dụng đồng thời 2 Luật Đất đai, gây xung đột về khung chính sách dẫn đến sự so bì của các hộ dân.

Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:

Do không có hồ sơ kèm theo và căn cứ nội dung câu hỏi, Bộ Tài nguyên và Môi trường cung cấp thông tin như sau:

Tại Điều 254 Luật Đất đai 2024 quy định chuyển tiếp về thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất khi Luật này có hiệu lực thi hành quy định:

"1. Đối với trường hợp đã có quyết định thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành nhưng chưa có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì tiếp tục thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Luật này.

2. Đối với trường hợp đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành nhưng chưa thực hiện thì tiếp tục thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã phê duyệt; việc xử lý chi trả bồi thường chậm được thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm nhà nước ban hành quyết định thu hồi đất.

3. Trường hợp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có văn bản xác định hành vi vi phạm của chủ đầu tư đối với việc không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai số 45/2013/QH13 thì xử lý như sau:

a) Trường hợp chưa có quyết định thu hồi đất thì UBND cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định tại Khoản 8 và Khoản 9 Điều 81 của Luật này;

b) Trường hợp đã ban hành quyết định thu hồi đất thì thực hiện thu hồi đất theo quyết định thu hồi đất và xử lý tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất thu hồi theo quy định của pháp luật tại thời điểm nhà nước ban hành quyết định thu hồi đất.

4. Đối với trường hợp đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành mới có quyết định giao đất tái định cư thì giá đất tính tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư được xác định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trường hợp tại thời điểm có quyết định giao đất tái định cư mà giá đất tái định cư thấp hơn giá đất trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì áp dụng giá đất tại thời điểm ban hành quyết định giao đất tái định cư.

5. Đối với dự án đầu tư đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành nhưng địa phương chưa phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì được áp dụng các chính sách có lợi hơn cho người có đất thu hồi theo Khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và các quy định của Luật này.

6. Dự án đầu tư thuộc trường hợp thỏa thuận về nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai số 45/2013/QH13, đang thực hiện thỏa thuận mà đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa hoàn thành việc thỏa thuận thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương quyết định việc cho phép tiếp tục thực hiện thỏa thuận về nhận chuyển quyền sử dụng đất".

Tại Điều 31 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có quy định:

"1. Đối với trường hợp đã có quyết định thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì tiếp tục thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Nghị định này.

2. Đối với trường hợp đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa thực hiện thì tiếp tục thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã phê duyệt; việc xử lý chi trả bồi thường chậm được thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm nhà nước ban hành quyết định thu hồi đất.

3. Đối với dự án đầu tư đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng địa phương chưa phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì được áp dụng các chính sách có lợi hơn cho người có đất thu hồi đã được xác định tại Khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và quy định của Nghị định này.

4. Đối với dự án đầu tư đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định, quy định chính sách đặc thù về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng địa phương chưa phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì được áp dụng các chính sách có lợi hơn cho người có đất thu hồi đã được xác định tại quyết định, quy định chính sách đặc thù của Thủ tướng Chính phủ và các quy định có lợi hơn của Nghị định này khi thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

5. Đối với trường hợp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt dự toán chi phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chi phí cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013 về lập dự toán, sử dụng và thanh, quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất".

Đồng thời Luật Đất đai quy định UBND cấp tỉnh ban hành quy định cụ thể về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn tỉnh.

Đề nghị ông/bà liên hệ với cơ quan Tài nguyên và Môi trường tại địa phương để được hướng dẫn cụ thể./.

Linh Anh (tổng hợp)

Đọc thêm

Kéo dài hiệu lực thi hành quy định quản lý, sử dụng nguồn thu từ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp

Kéo dài hiệu lực thi hành quy định quản lý, sử dụng nguồn thu từ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định về việc công bố Thông tư số 57/2022/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Nghị định số 148/2021/NĐ-CP về quản lý, sử dụng nguồn thu từ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, nguồn thu từ chuyển nhượng vốn nhà nước và chênh lệch vốn chủ sở hữu lớn hơn vốn điều lệ tại doanh nghiệp tiếp tục có hiệu lực.
Bộ Tài chính đính chính thay thế một số biểu mẫu trong quản lý thuế tại Thông tư 89

Bộ Tài chính đính chính thay thế một số biểu mẫu trong quản lý thuế tại Thông tư 89

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định về việc đính chính Thông tư số 89/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 252/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế.
Hàng hóa được ủy thác xuất khẩu nhưng tiêu thụ trong nước, phải kê khai, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt

Hàng hóa được ủy thác xuất khẩu nhưng tiêu thụ trong nước, phải kê khai, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 136/2026/TT-BTC sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 3 của Thông tư số 158/2025/TT-BTC và Nghị định số 360/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt. Theo đó, hàng hóa được ủy thác xuất khẩu nhưng không xuất khẩu, mà tiêu thụ trong nước, thì phải kê khai, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2026.
Bộ Tài chính sửa đổi quy định về giá và sản lượng tính thuế tài nguyên

Bộ Tài chính sửa đổi quy định về giá và sản lượng tính thuế tài nguyên

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 135/2026/TT-BTC (Thông tư 135) sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 2/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế tài nguyên được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 41/2024/TT-BTC.
Tự chủ hơn về kế toán, gắn với trách nhiệm và tính minh bạch

Tự chủ hơn về kế toán, gắn với trách nhiệm và tính minh bạch

(TBTCO) - Bắt đầu áp dụng từ năm tài chính 2026, Thông tư số 99/2025/TT-BTC mở rộng quyền chủ động của doanh nghiệp trong tổ chức công tác kế toán. Đi cùng với đó là yêu cầu phân định trách nhiệm đến từng bộ phận, cá nhân nhằm nâng chất lượng dữ liệu đầu vào và báo cáo tài chính.
Doanh nghiệp FDI hiến kế thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW

Doanh nghiệp FDI hiến kế thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW

(TBTCO) - Cộng đồng doanh nghiệp FDI đề xuất Việt Nam tiếp tục hoàn thiện thể chế minh bạch, nhất quán; tăng cường đối thoại, hỗ trợ nhà đầu tư hiện hữu và thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp trong nước để Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhanh chóng đi vào thực tiễn.
Nghị quyết số 10-NQ/TW mở hướng nâng chất dòng vốn FDI từ châu Âu

Nghị quyết số 10-NQ/TW mở hướng nâng chất dòng vốn FDI từ châu Âu

(TBTCO) - Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt trọng tâm vào chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng của FDI, đồng thời tạo dư địa để doanh nghiệp châu Âu tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế Việt Nam.
Quy định về nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia

Quy định về nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 345/2026/NĐ-CP ngày 4/9/2026 quy định chi tiết một số điều, biện pháp thi hành Luật Dự trữ quốc gia về dự trữ quốc gia và quản lý, sử dụng hàng dự trữ quốc gia. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều