Dòng tiền sẽ chảy vào kênh đầu tư nào trong thời gian tới?

Tấn Minh
(TBTCO) - Trong bối cảnh lãi suất ngân hàng liên tục giảm mạnh và giữ ở mức thấp, đầu tư vào đâu để gia tăng lợi nhuận, nhưng vẫn phải đảm bảo yếu tố hiệu quả, an toàn là băn khoăn của nhiều nhà đầu tư.
aa

Lãi suất tiền gửi chạm mức đáy của giai đoạn Covid-19

Trong những ngày đầu tháng 12/2023, lãi suất tiền gửi tiết kiệm VND thông thường tại quầy của các ngân hàng tiếp tục giảm thêm 0,1 - 1,35%/năm so với 1 tháng trước đó. Lãi suất huy động cao nhất kỳ hạn 12 tháng chỉ còn ở mức 5,7%/năm, thấp nhất chỉ còn 4,8%/năm.

Cụ thể, tại các ngân hàng thương mại nhà nước như Vietcombank, BIDV, Vietinbank và Agribank chỉ còn huy động tiền gửi tiết kiệm với lãi suất từ 2,4%/năm đến 5,3%/năm đối với kỳ hạn từ 1 - 12 tháng. Ở các ngân hàng thương mại khác, lãi suất tiền đồng cũng giảm mạnh, đối với kỳ hạn 1 - 12 tháng, Techcombank đang huy động tiền gửi với lãi suất từ 3,4% - 5,2%/năm; MB huy động từ 3,2% - 5,1%/năm…

Dòng tiền sẽ chảy vào kênh đầu tư nào trong thời gian tới?
Lãi suất tiền gửi chạm mức đáy của giai đoạn Covid-19. Ảnh: T.L

Trong báo cáo mới đây, Công ty cổ phần Chứng khoán VnDirect cho biết, tính đến ngày 31/10/2023, tín dụng đã tăng 7,39% so với đầu năm, thấp hơn so mức tăng trưởng cùng kỳ năm trước là 11,62%. Trong khi đó, tăng trưởng tiền gửi M2 vẫn tiếp tục cải thiện dù cho lãi suất huy động giảm.

Nguyên nhân tín dụng tăng trưởng yếu hơn so với cùng kỳ là khả năng trả nợ của khách hàng suy yếu do lãi suất của các khoản vay trong giai đoạn cuối năm 2022 cao trong khi thu nhập giảm và thị trường bất động sản vẫn ảm đạm.

Với định hướng của Ngân hàng Nhà nước về việc giảm lãi suất cho vay hỗ trợ doanh nghiệp, VnDirect cho rằng từ nay đến cuối năm 2023, tăng trưởng tín dụng sẽ được cải thiện và đạt 10% so với đầu năm nhờ vào các ngành sản xuất phục hồi với việc đơn hàng sản xuất tăng trở lại, ngành xây dựng phục hồi nhờ thúc đẩy đầu tư công những tháng cuối năm và nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng trở lại trong dịp lễ tết cuối năm.

Tỷ suất thu nhập trên giá (E/P) của Vn-Index trung bình trong tháng 11 vào khoảng 7,4% trong khi bình quân lãi suất huy động 12 tháng của các ngân hàng thương mại trong tháng 11 tiếp tục giảm thêm 0,2 điểm % so với tháng trước xuống còn 5,14%/năm, khiến cho khoảng cách giữa E/P và lãi suất tiền gửi ngân hàng tiếp tục được nới rộng và tương đương thời điểm đáy trung hạn của thị trường vào đầu quý IV/22.

Tính đến ngày 24/11/2023, bình quân lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các Ngân hàng quốc doanh đã giảm về mức bình quân 5,13%/năm, giảm 0,1 điểm % so với cuối tháng 10. Trong khi đó, lãi suất huy động 12 tháng của các Ngân hàng tư nhân dao động từ 4,6% đến 5,7%/năm với mức bình quân khoảng 5,14%/năm, giảm gần 0,3 điểm % so với tháng trước.

Một số các NHTM có mức bình quân lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng giảm mạnh nhất so với tháng trước bao gồm: STB (-0,7 điểm %), ACB (-0,5 điểm %), SHB (-0,3 điểm %) và LPB (-0,3 điểm %). Như vậy, lãi suất tiền gửi đã thấp hơn cả giai đoạn Covid-19.

Các chuyên gia của VnDirect cho rằng, đây thời điểm thích hợp để đầu tư trung và dài hạn vào kênh chứng khoán do định giá thị trường khá hấp dẫn khi đặt trong bối cảnh mặt bằng lãi suất huy động thấp hiện nay và thu nhập toàn thị trường được dự báo có thể cải thiện kể từ quý IV/23.

Dòng tiền thông minh sẽ đi về đâu?

Trong bối cảnh lãi suất huy động của ngân hàng giảm sâu ở mức kỷ lục, các chuyên gia kỳ vọng dòng tiền tiết kiệm sẽ chuyển dịch sang các kênh đầu tư khác như: bất động sản, chứng khoán, vàng...

Chia sẻ về sức hấp dẫn của các kênh đầu tư, ông Phan Khánh Linh - Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn và Đầu tư TechProfit Việt Nam cho rằng, chứng khoán vẫn là kênh đầu tư hấp dẫn. Bởi thị trường bất động sản còn gặp những vấn đề liên quan đến pháp lý khiến doanh nghiệp bất động sản khó bán hàng, bên cạnh đó thanh khoản của thị trường mặc dù có cải thiện nhưng để sôi động trở lại cần thời gian khá lâu. Trong khi đó, lãi suất tiết kiệm lại đang ở mức thấp, còn vàng và ngoại tệ thì khó đoán định. "Do đó, tôi cho rằng chỉ cần có "gió đông", thị trường chứng khoán sẽ khởi sắc hơn" - ông Linh nói.

Dòng tiền sẽ chảy vào kênh đầu tư nào trong thời gian tới?
Kỳ vọng dòng tiền chảy vào chứng khoán. Ảnh: T.L

Ở một góc nhìn khác, TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế cho biết, thực tế thì lãi suất dù có giảm mạnh nhưng người dân không có nhu cầu tiêu dùng mạnh tay, cũng như không tham gia đầu tư nhiều trước nên tất cả dòng tiền vẫn tập trung đổ dồn vào ngân hàng.

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, hầu như tất cả các kênh đầu tư đều có độ rủi ro lớn và vẫn còn nhiều biến động khó lường. Trong 5 kênh đầu tư kênh tư hiện nay (chứng khoán, bất động sản, vàng, ngoại tệ và gửi tiết kiệm) thì chỉ có ngân hàng được coi là nơi cất trữ dòng tiền an toàn nhất. Bởi dù lãi suất có giảm sâu đi chăng nữa thì việc bỏ tiền vào ngân hàng vẫn an toàn, không rủi ro như các kênh đầu tư khác, mà vẫn có lợi nhuận.

"Để an toàn, người ta vẫn lựa chọn việc gửi tiền tiết kiệm ngân hàng. Trong khi đó, bất động sản khôi phục nhưng có lẽ vào nửa cuối của năm 2024. Thị trường bất động sản cũng cần có thời gian để phục hồi, khi các dòng vốn, thị trường chứng khoán khả quan hơn, chính sách tiền tệ của các nước ổn định hơn, tạo ra tiền đề của chính sách tiền tệ của Việt Nam" - ông Hiếu chia sẻ.

Theo các chuyên gia, nền kinh tế đang có những điều kiện nội tại tốt để hồi phục trong năm 2024 gồm mặt bằng lãi suất thấp, tỷ giá ổn định, xuất nhập khẩu bắt đầu tăng trưởng trở lại và đầu tư công vẫn được đẩy mạnh. Triển vọng phục hồi tăng trưởng của doanh nghiệp cũng dần rõ ràng hơn khi lãi suất đủ thấp sẽ bắt đầu kích thích các hoạt động kinh tế và làm tăng vòng quay của tiền.
Tấn Minh

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (30/3): Tỷ giá USD tự do vượt 28.000 đồng, DXY duy trì trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (30/3): Tỷ giá USD tự do vượt 28.000 đồng, DXY duy trì trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 30/3, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.100 đồng/USD, đi ngang so với phiên cuối tuần. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,25% lên 100,15 điểm, cho thấy USD tiếp tục mạnh lên. Trong nước, tỷ giá USD tự do bật tăng 110 đồng, vượt mốc 28.000 đồng, phản ánh áp lực tỷ giá gia tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,990 ▲10K 17,290 ▲10K
Kim TT/AVPL 17,000 ▲20K 17,300 ▲20K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,990 ▲10K 17,290 ▲10K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼50K 16,150 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼50K 16,100 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,750 ▼50K 17,150 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,700 ▼50K 17,100 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,630 ▼50K 17,080 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,900 ▲100K 172,900 ▲100K
Hà Nội - PNJ 169,900 ▲100K 172,900 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 169,900 ▲100K 172,900 ▲100K
Miền Tây - PNJ 169,900 ▲100K 172,900 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 169,900 ▲100K 172,900 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 169,900 ▲100K 172,900 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,990 ▲10K 17,290 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 16,990 ▲10K 17,290 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 16,990 ▲10K 17,290 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,990 ▲10K 17,290 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,990 ▲10K 17,290 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,990 ▲10K 17,290 ▲10K
NL 99.90 15,770 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800 ▼50K
Trang sức 99.9 16,480 ▲10K 17,180 ▲10K
Trang sức 99.99 16,490 ▲10K 17,190 ▲10K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,699 ▲1K 1,729 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,699 ▲1K 17,292 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,699 ▲1K 17,293 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,697 ▲1K 1,727 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,697 ▲1K 1,728 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,677 ▲1K 1,712 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,005 ▲99K 169,505 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,663 ▲75K 128,563 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,678 ▲96917K 116,578 ▲104927K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,692 ▲61K 104,592 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 9,107 ▼81904K 9,997 ▼89914K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,648 ▲42K 71,548 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,699 ▲1K 1,729 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,699 ▲1K 1,729 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,699 ▲1K 1,729 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,699 ▲1K 1,729 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,699 ▲1K 1,729 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,699 ▲1K 1,729 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,699 ▲1K 1,729 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,699 ▲1K 1,729 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,699 ▲1K 1,729 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,699 ▲1K 1,729 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,699 ▲1K 1,729 ▲1K
Cập nhật: 30/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17549 17821 18398
CAD 18421 18698 19313
CHF 32319 32702 33340
CNY 0 3470 3830
EUR 29683 29955 30988
GBP 34139 34529 35458
HKD 0 3231 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14790 15382
SGD 19897 20179 20708
THB 717 780 833
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26157 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,355
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,771 29,795 31,027
JPY 160.12 160.41 169.04
GBP 34,253 34,346 35,316
AUD 17,711 17,775 18,332
CAD 18,596 18,656 19,227
CHF 32,552 32,653 33,418
SGD 20,005 20,067 20,724
CNY - 3,774 3,891
HKD 3,293 3,303 3,420
KRW 16.05 16.74 18.1
THB 760.85 770.25 819.11
NZD 14,759 14,896 15,242
SEK - 2,730 2,810
DKK - 3,984 4,099
NOK - 2,653 2,731
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,122.85 - 6,873.27
TWD 741.69 - 893
SAR - 6,895.92 7,218.79
KWD - 83,461 88,258
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,739 29,858 31,031
GBP 34,274 34,412 35,411
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,398 32,528 33,434
JPY 160.83 161.48 168.70
AUD 17,701 17,772 18,354
SGD 20,085 20,166 20,740
THB 779 782 816
CAD 18,612 18,687 19,249
NZD 14,847 15,374
KRW 16.71 18.32
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26355
AUD 17684 17784 18710
CAD 18591 18691 19706
CHF 32529 32559 34145
CNY 3743.7 3768.7 3904.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29831 29830 31586
GBP 34371 34421 36174
HKD 0 3355 0
JPY 161.1 161.6 172.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14868 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20044 20174 20895
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16840000 16840000 17140000
SBJ 15000000 15000000 17140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,355
USD20 26,156 26,206 26,355
USD1 23,845 26,206 26,355
AUD 17,786 17,886 19,022
EUR 29,996 29,996 31,440
CAD 18,542 18,642 19,971
SGD 20,116 20,266 21,500
JPY 161.19 162.69 167.4
GBP 34,298 34,648 35,555
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80