Giảm giá năng lượng để kiểm soát lạm phát, thúc đà tăng trưởng
Hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và giảm chi phí sinh hoạt cho người dân
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong 9 tháng năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã tăng 4,52%, mức tăng này cao hơn mục tiêu kiểm soát lạm phát 4,5% đặt ra trong năm nay. Từ nay đến cuối năm, các yếu tố gây áp lực tăng giá và các yếu tố kiềm chế giá tiếp tục đan xen, đặt ra không ít thách thức đối với công tác điều hành.
Trong bối cảnh này, việc Chính phủ quyết định ngày 1/11/2026 giảm giá bán lẻ điện bình quân 2% và đưa thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng về 0%, giúp giảm giá xăng trong nước sẽ tạo tác động lan tỏa đến mặt bằng chi phí của nền kinh tế, nhất là khi doanh nghiệp vẫn chịu áp lực về chi phí đầu vào.
![]() |
| Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các loại xăng về 0% giúp giá xăng giảm 1.500 - 1.700 đồng/lít. Ảnh: Đức Thanh |
Đánh giá chính sách trên, ông Nguyễn Tiến Thỏa, Chủ tịch Hội Thẩm định giá Việt Nam cho rằng, việc Chính phủ quyết định giảm giá điện 2% và Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nghiêm túc triển khai thực hiện có tác động lan tỏa sâu rộng đến các hoạt động của nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ sản xuất và giảm chi phí sinh hoạt cho người dân.
Trước hết, việc giảm giá điện có tác động tích cực đến CPI. Theo tính toán, mức giảm giá điện 2% có thể trực tiếp và gián tiếp làm giảm chỉ số CPI.
Mặt hàng khác thuộc diện Nhà nước định giá, cần giữ ổn định giÔng Nguyễn Tiến Thỏa cho rằng, nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội thường tăng cao vào những tháng cuối năm. Do vậy, đối với những mặt hàng khác thuộc diện Nhà nước định giá, cần cố gắng giữ ổn định giá, dù vẫn có áp lực gia tăng chi phí đầu vào. Trong bối cảnh áp lực lạm phát còn hiện hữu, nếu kiểm soát được chỉ số giá tiêu dùng trong khoảng 4,5 - 5% thì có thể coi là một kết quả thành công của công tác điều hành giá và ổn định kinh tế vĩ mô. |
Đối với hoạt động sản xuất, việc giảm giá điện giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là những ngành sử dụng nhiều điện như thép, xi măng, dệt may… tiết giảm chi phí đầu vào. Theo tính toán, giá thành sản xuất của ngành thép có thể giảm khoảng 0,12%; xi măng giảm khoảng 0,3% và dệt may giảm khoảng 0,2%. Đây là tác động tích cực, tạo điều kiện để doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm, qua đó có thêm dư địa giảm giá bán ra thị trường.
Cùng với đó, việc giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các loại xăng về 0% giúp giá mặt hàng xăng giảm khoảng 1.500 - 1.700 đồng/lít, qua đó tác động tích cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và kiểm soát lạm phát.
Còn theo PGS.TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế, trong 2 tháng cuối năm, nếu không kiểm soát được giá năng lượng sẽ tạo áp lực lớn đến lạm phát. Trước áp lực đó, một trong những yếu tố quan trọng có thể kiểm soát là giá năng lượng.
Trong đó, giá xăng dầu, giá điện là những mặt hàng quan trọng đối với đời sống, sản xuất và tiêu dùng. Khi giá giảm, sức mua sẽ tăng lên giúp tăng trưởng ổn định, kinh tế vĩ mô được ổn định.
Nền kinh tế sẽ có thêm điều kiện thuận lợi để tăng tốc
PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng, việc giảm chi phí năng lượng không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp và người tiêu dùng, còn góp phần giảm áp lực tăng giá đối với hàng hóa, dịch vụ. Với người dân, chính sách trên sẽ giúp tiết kiệm một phần chi phí sinh hoạt, từ đó có thêm điều kiện chi tiêu cho các nhu cầu khác. Khi sức mua được cải thiện sẽ góp phần hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Riêng đối với việc giảm 2% giá bán lẻ điện bình quân, đây là chính sách có ý nghĩa thiết thực, giảm bớt áp lực chi tiêu cho hộ gia đình.
Với doanh nghiệp, việc giảm giá xăng, điện sẽ góp phần tiết giảm chi phí đầu vào, tạo điều kiện hạ giá thành sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh. Tác động này càng có ý nghĩa trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng, doanh nghiệp phải đối mặt với áp lực cạnh tranh lớn.
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, Đại học Kinh tế Quốc dân phân tích, tác động đầu tiên là giảm chi phí chung của nền kinh tế, đặc biệt là chi phí năng lượng. Điện và xăng dầu là đầu vào của rất nhiều ngành nghề, nên khi chi phí hai mặt hàng này giảm, doanh nghiệp có điều kiện cải thiện hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Đối với doanh nghiệp, chi phí năng lượng thấp hơn có thể giúp giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh và cải thiện dòng tiền. Những doanh nghiệp có đơn hàng tốt, có nhu cầu mở rộng sản xuất có thể tận dụng phần chi phí tiết kiệm được để đầu tư thêm máy móc, thiết bị hoặc tuyển dụng lao động.
Ở góc độ tiêu dùng, khi chi phí điện, xăng dầu và đi lại giảm, thu nhập thực tế của người dân được cải thiện. Phần tiền tiết kiệm được có thể chuyển sang các khoản chi tiêu khác, qua đó hỗ trợ sức mua trên thị trường.
Như vậy, chính sách này có thể tạo ra tác động hai chiều: vừa giảm áp lực lạm phát, vừa kích thích đầu tư và tiêu dùng. Đây là sự kết hợp có ý nghĩa trong bối cảnh cần duy trì động lực tăng trưởng cao nhưng vẫn phải kiểm soát mặt bằng giá cả.
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, việc giảm giá điện, xăng dầu cần được nhìn nhận trong tổng thể các giải pháp điều hành. Nếu kết hợp tốt với giải ngân đầu tư công, khuyến khích đầu tư tư nhân và duy trì đà tăng trưởng thương mại, chính sách giảm chi phí năng lượng có thể góp phần tạo ra một chu kỳ phát triển mới cho nền kinh tế.



