Tiền gửi tăng gần 11% sau 9 tháng "bám đuổi" đà tăng cho vay, chứng chỉ tiền gửi tiếp sức cuộc đua

(TBTCO) - Sau cuộc đua lãi suất, tiền gửi tại 28 ngân hàng niêm yết tăng tốc qua từng quý, đạt hơn 14,38 triệu tỷ đồng sau 9 tháng năm 2026, tăng 10,56%, dần thu hẹp khoảng cách với tăng trưởng tín dụng. Khi lãi suất huy động buộc phải hạ nhiệt, việc phát hành giấy tờ có giá, đặc biệt chứng chỉ tiền gửi với lãi suất hấp dẫn giúp "giữ chân" dòng tiền.
aa

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa “cuộc đua” lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất


Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95% Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

Sau cuộc đua lãi suất, dòng tiền gửi ngân hàng bật tăng mạnh

Sau hơn một năm các ngân hàng rầm rộ cạnh tranh lãi suất để hút tiền gửi, huy động vốn ngân hàng đang tăng tốc, dần đuổi sát đà tăng trưởng tín dụng.

Báo cáo tài chính của 28 ngân hàng niêm yết cho thấy, kết thúc 9 tháng năm 2026, tổng tiền gửi khách hàng đạt hơn 14,38 triệu tỷ đồng, tăng gần 1,37 triệu tỷ đồng, tương đương tăng 10,56% so với đầu năm, song thấp hơn mức tăng của dư nợ cho vay (12,54%).

Đồ họa: Ánh Tuyết

Xét về tốc độ tăng trưởng, NCB dẫn đầu nhóm khảo sát với mức tăng 45,4%, đưa tiền gửi khách hàng lên hơn 185.184 tỷ đồng.

Dòng tiền gửi vào nhóm các ngân hàng niêm yết tăng tốc rõ rệt qua từng quý. Nếu cuối quý I, tổng tiền gửi chỉ tăng khoảng 0,6% so với đầu năm, đến cuối quý II tăng 5,35% và tiếp tục lên 10,56% vào cuối quý III.

Ngân hàng NCB tiếp tục “chịu chi” để thu hút tiền gửi với nhiều giải thưởng giá trị, nổi bật là 3 căn hộ trị giá 3 tỷ đồng/căn do Sun Group phát triển tại dự án Symphony 5 (Đà Nẵng), được trao trong tuần đầu tháng 11.

Đà tăng huy động mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng, khi dư nợ cho vay khách hàng NCB tăng tới 54,5%, cũng dẫn đầu nhóm ngân hàng niêm yết.

Theo sau là HDBank với tiền gửi đạt hơn 709.166 tỷ đồng, tăng 26,5%; VPBank tăng 26,3%, lên hơn 793.047 tỷ đồng, tương đương huy động thêm khoảng 165.003 tỷ đồng. HDBank và VPBank là hai trong những ngân hàng tham gia nhận chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng yếu kém, nên đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng và huy động vốn ở mức cao.

SACOMBANK huy động thêm hơn 157.079 tỷ đồng, đưa số dư tiền gửi lên 775.422 tỷ đồng, tăng 25,4%... SACOMBANK cũng mạnh tay hút tiền gửi với chương trình “Tích lũy tài lộc”, tổng giá trị quà tặng hơn 9 tỷ đồng, nổi bật là căn hộ Vinhomes Grand Park trị giá 2 tỷ đồng..., chương trình kéo dài đến hết ngày 20/11.

Trong khi các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ nổi bật về tốc độ tăng trưởng, nhóm ngân hàng lớn tiếp tục áp đảo về quy mô huy động. BIDV dẫn đầu với hơn 2,36 triệu tỷ đồng tiền gửi, tăng 6,2% so với đầu năm, tương đương tăng khoảng 137.533 tỷ đồng. VietinBank đứng thứ hai với hơn 1,94 triệu tỷ đồng, tăng 8,4%; tiếp đến là Vietcombank với gần 1,78 triệu tỷ đồng, tăng 6,5%.

Như vậy, riêng ba ngân hàng thương mại nhà nước niêm yết nắm giữ khoảng 6,09 triệu tỷ đồng tiền gửi khách hàng, chiếm hơn 42% tổng tiền gửi của nhóm khảo sát.

Trong khối ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, MB dẫn đầu với gần 993.988 tỷ đồng, tăng 7,9%, tiếp đến là VPBank, SACOMBANK và HDBank.

Xu hướng này diễn ra trong bối cảnh cạnh tranh huy động vốn gia tăng, nhiều ngân hàng điều chỉnh lãi suất tiền gửi, một số chương trình ưu đãi vượt 9%/năm với điều kiện áp dụng nhất định.

Tuy nhiên, từ giữa tháng 10, mặt bằng lãi suất bắt đầu hạ nhiệt theo chỉ đạo của cơ quan điều hành.

Thông tin tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 10, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cho biết, giai đoạn cuối tháng 10, lãi suất huy động đối với các khoản tiền gửi phát sinh mới bình quân giảm khoảng 0,4%/năm so với thời điểm giữa tháng 10.

Ngân hàng chuộng phát hành chứng chỉ tiền gửi

Trong bối cảnh cạnh tranh lãi suất huy động gia tăng, vẫn có nhiều ngân hàng ghi nhận tiền gửi khách hàng tăng thấp, thậm chí sụt giảm sau 9 tháng năm 2026.

Trong đó, Eximbank giảm mạnh nhất 10,7%; Saigonbank giảm 4,4%. Bên cạnh đó, OCB chỉ tăng 1,3%; ACB tăng 1,9%; Bac A Bank tăng 2,2%; SeABank tăng 2,5%; PVcomBank tăng 3,6%... cho thấy sự phân hóa rõ nét trong khả năng thu hút tiền gửi.

Tiền gửi tăng gần 11% sau 9 tháng
“Trong bối cảnh lãi suất neo cao và các kênh đầu tư truyền thống như: vàng, ngoại tệ, tài sản số/chứng khoán và bất động sản gặp nhiều trở ngại, tiền gửi tiết kiệm trở thành kênh trú ẩn an toàn cho dòng vốn nhà đầu tư trong suốt 9 tháng 2026” - SSI Research đánh giá.

Bên cạnh tiền gửi khách hàng - kênh chủ đạo chiếm tới 65% tổng nguồn vốn, các ngân hàng còn huy động qua thị trường liên ngân hàng, nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ..., đặc biệt đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá.

Tại 28 ngân hàng khảo sát, tổng số dư giấy tờ có giá đạt hơn 2,26 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 535.736 tỷ đồng, tương đương 31% so với đầu năm, gần gấp ba tốc độ tăng tiền gửi khách hàng.

Nổi bật, SACOMBANK ghi nhận số dư giấy tờ có giá tăng 118,3%, từ 39.185 tỷ đồng lên 85.546 tỷ đồng, tương đương tăng hơn 46.360 tỷ đồng. Trong bối cảnh ngân hàng nhiều năm chưa chia cổ tức và quá trình tăng vốn điều lệ còn vướng mắc, việc gia tăng huy động qua giấy tờ có giá cho thấy xu hướng đa dạng hóa nguồn vốn.

Tại các ngân hàng khác, số dư giấy tờ có giá của VPBank tăng 80,8%; VietABank tăng 77,9%; Vietcombank tăng 74,9%; MB tăng 61,5%; ACB tăng 58,1%...

Trong danh mục các ngân hàng theo dõi của Trung tâm Phân tích và tư vấn đầu tư Công ty cổ phần Chứng khoán (SSI Research), mức tăng của các kênh huy động vốn thậm chí còn cao hơn.

Theo đó, kênh phát hành giấy tờ có giá diễn ra sôi động tại hầu hết các ngân hàng trong 9 tháng 2026, bao gồm chứng chỉ tiền gửi tăng 350 nghìn tỷ đồng; tăng 41% so với đầu năm; trái phiếu tăng 112 nghìn tỷ đồng; tăng 21% so với đầu năm.

Chỉ rõ lý do các ngân hàng đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá, SSI Research cho rằng, tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng bị áp trần lãi suất 4,75%. Để “giữ chân” khách hàng tốt, các ngân hàng khuyến khích khách hàng chuyển sang mua chứng chỉ tiền gửi, với lãi suất bình quân 6,5 - 8,5% cho kỳ hạn dưới 6 tháng.

Lãi suất chứng chỉ tiền gửi không được dùng làm lãi suất tham chiếu cho vay, ngân hàng có thể trả lãi suất chứng chỉ tiền gửi cao hơn tiền gửi truyền thống mà không làm tăng lãi suất cho vay cơ sở.

Ngoài ra, quy định tại Thông tư số 50/2026/TT-NHNN đưa ra các quy định tiệm cận Basel III, trong đó, định nghĩa lại mẫu số của tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) theo hướng nguồn vốn ổn định.

Với tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR), theo khung Basel III, nguồn vốn dài hạn từ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ được áp hệ số nguồn vốn ổn định sẵn có (ASF) cao 90 - 100%. Trong khi nguồn vốn bán buôn ngắn hạn từ các định chế tài chính được áp hệ số rất thấp hoặc bằng 0.

“Vì vậy, chứng chỉ tiền gửi trung, dài hạn bán cho cá nhân giúp ngân hàng xây dựng nền tảng vốn ổn định trước lộ trình áp dụng LCR (tỷ lệ khả năng chi trả)/NSFR, vốn sẽ trở thành bắt buộc chậm nhất từ ngày 01/10/2028” - SSI Research phân tích./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục ghi danh trong Fortune Southeast Asia 500, khẳng định vị thế Tập đoàn tài chính - bảo hiểm hàng đầu Việt Nam.
Cán cân thanh toán quốc tế BOP trở lại thặng dư, sức ép tỷ giá chưa vơi

Cán cân thanh toán quốc tế BOP trở lại thặng dư, sức ép tỷ giá chưa vơi

(TBTCO) - Loạt ngân hàng trung ương các nền kinh tế lớn phát tín hiệu tăng lãi suất, gia tăng sức ép lên tỷ giá và dòng vốn quốc tế. Dù nhiều cấu phần vẫn chịu áp lực, cán cân thanh toán quốc tế (BOP) quý II/2026 của Việt Nam vẫn thặng dư 81 triệu USD, cùng những tín hiệu tích cực gần đây mở ra kỳ vọng giảm sức ép tỷ giá, củng cố dự trữ ngoại hối.
Tỷ giá USD hôm nay 4/11: USD suy yếu, Úc tăng lãi suất lên 4,85% và Anh dự kiến thắt chặt

Tỷ giá USD hôm nay 4/11: USD suy yếu, Úc tăng lãi suất lên 4,85% và Anh dự kiến thắt chặt

(TBTCO) - Sáng 4/11, tỷ giá trung tâm giảm 3 đồng, xuống 25.627 đồng; chỉ số DXY giảm 0,5% còn 101,38 điểm. Thị trường ngoại hối biến động trước tín hiệu chính sách từ các ngân hàng trung ương. Đô la Úc suy yếu dù Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) tăng lãi suất lên 4,85%, trong khi Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) được dự báo nâng lãi suất lên 4% vào ngày 5/11.
Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm BSH lãi trước thuế 61,9 tỷ đồng, đảo chiều so với cùng kỳ, hoàn thành 126% kế hoạch. Dù phí bảo hiểm gốc giảm, lợi nhuận gộp kinh doanh bảo hiểm vẫn gấp hơn 5,3 lần, đạt kỷ lục 114,4 tỷ đồng. Danh mục đầu tư tài chính gần 2.200 tỷ đồng tiếp tục đóng góp vào nguồn thu.
Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

(TBTCO) - Công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo (AI) và các mô hình tài chính số đang mở ra cơ hội nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ. Tuy nhiên, để đổi mới bền vững, hệ thống tài chính cần tăng cường quản trị rủi ro, bảo đảm an toàn vận hành và nâng cao khả năng phục hồi trước những sự cố công nghệ.
PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa gia hạn đăng ký và nộp tiền mua cổ phiếu đến ngày 14/12/2026. Trong đợt 1, ngân hàng dự kiến phát hành 150 triệu cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động tối đa 1.500 tỷ đồng. Động thái này diễn ra trong bối cảnh PGBank đang mở rộng quy mô hoạt động, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt 630 tỷ đồng, tăng 27%.
Dự kiến chấm điểm, xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân theo phương pháp mới từ năm 2028

Dự kiến chấm điểm, xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân theo phương pháp mới từ năm 2028

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng dự thảo Thông tư mới về xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân, dự kiến thực hiện từ năm 2028 trên cơ sở số liệu kiểm toán năm 2027. Điểm mới là chuyển từ thang 100 điểm sang 4 điểm, kết hợp đánh giá định lượng và định tính, đồng thời bổ sung, điều chỉnh nhiều chỉ tiêu và trọng số đánh giá.
Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 3/11, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng, xuống 25.630 đồng; USD ngân hàng đồng loạt giảm, trong khi DXY nhích 0,02%, lên 101,8 điểm. Thị trường hướng sự chú ý tới cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ cùng quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương, với dự báo Ngân hàng Dự trữ Australia (RBA) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) sẽ cùng tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,600 ▲1700K 140,600 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 ▲180K 14,240 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 13,940 ▲180K 14,240 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 13,940 ▲180K 14,240 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,680 ▲150K 14,080 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,680 ▲150K 14,080 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,680 ▲150K 14,080 ▲150K
Trang sức 99.9 13,360 ▲150K 13,960 ▲150K
Trang sức 99.99 13,370 ▲150K 13,970 ▲150K
Vàng 99.9 12,650
Vàng 99.99 12,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,394 ▲18K 14,242 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,394 ▲18K 14,243 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 ▲28K 1,405 ▲28K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 ▲28K 1,406 ▲28K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,345 ▲28K 1,395 ▲28K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,119 ▲2772K 138,119 ▲2772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,985 ▲2100K 104,785 ▲2100K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,219 ▲1904K 95,019 ▲1904K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,454 ▲1709K 85,254 ▲1709K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,687 ▲1633K 81,487 ▲1633K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,527 ▲43791K 58,327 ▲52611K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▲18K 1,424 ▲18K
Cập nhật: 04/11/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17491 17764 18340
CAD 17883 18157 18776
CHF 30801 31178 31825
CNY 0 3809 3906
EUR 28289 28505 29585
GBP 33850 34240 35175
HKD 0 3146 3348
JPY 155 159 166
KRW 0 18 20
NZD 0 14161 14753
SGD 19571 19852 20422
THB 679 742 796
USD (1,2) 25447 0 0
USD (5,10,20) 25484 0 0
USD (50,100) 25511 25525 25895
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,550 25,550 25,930
USD(1-2-5) 24,528 - -
USD(10-20) 24,528 - -
EUR 28,331 28,354 29,704
JPY 158.27 158.56 168.19
GBP 34,022 34,114 35,300
AUD 17,648 17,712 18,386
CAD 18,079 18,137 18,810
CHF 31,091 31,188 32,119
SGD 19,701 19,762 20,540
CNY - 3,780 3,926
HKD 3,214 3,224 3,360
KRW 17.68 18.44 20.06
THB 728.59 737.59 789.86
NZD 14,116 14,247 14,675
SEK - 2,593 2,686
DKK - 3,801 3,936
NOK - 2,732 2,830
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,912.26 - 6,675.92
TWD 708.02 - 857.89
SAR - 6,739.23 7,100.3
KWD - 81,354 86,581
AED - 6,753 7,278
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,550 25,580 25,960
EUR 28,312 28,454 29,683
GBP 33,980 34,151 35,187
HKD 3,211 3,230 3,347
CHF 30,923 31,078 32,026
JPY 157.83 159.42 167.40
AUD 17,585 17,709 18,304
SGD 19,674 19,853 20,449
THB 732 747 784
CAD 18,028 18,155 18,752
NZD 14,167 14,720
KRW 18.50 20.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25530 25530 25890
AUD 17683 17783 18708
CAD 18079 18179 19191
CHF 31092 31122 32703
CNY 3792.4 3817.4 3952.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28502 28532 30257
GBP 34188 34238 35996
HKD 0 3300 0
JPY 158.83 159.33 169.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14293 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19741 19871 20592
THB 0 709 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12000000 12000000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,445 25,565 25,900
USD20 25,415 25,565 25,900
USD1 25,395 25,565 25,900
AUD 17,558 17,708 18,875
EUR 28,256 28,356 30,014
CAD 18,020 18,120 19,428
SGD 19,813 19,963 20,517
JPY 159.73 161.23 166.8
GBP 34,034 34,184 35,496
XAU 13,818,000 0 14,122,000
CNY 0 3,773 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/11/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30