Giảm số năm đóng BHXH tối thiểu xuống 15 năm và 10 năm

Mai Lâm
(TBTCVN) - Tại buổi giao lưu trực tuyến “Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) hướng tới mục tiêu an sinh bền vững” vừa được Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam tổ chức.
aa

Việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu là xu thế tất yếu cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp.

Việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu là xu thế tất yếu cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp.

ông Doãn Mậu Diệp, Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) cho biết, lần cải cách BHXH này, ngoài việc nâng tuổi nghỉ hưu, sẽ thiết kế sửa đổi điều kiện hưởng chế độ hưu trí theo hướng giảm số năm đóng BHXH tổi thiểu từ 20 năm xuống 15 năm và 10 năm, với mức hưởng phù hợp.

Tăng tuổi hưu là xu thế tất yếu

Ông Doãn Mậu Diệp cho biết, trong bối cảnh già hóa dân số, hầu hết các nước trên thế giới đều đã có kế hoạch điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu. Đơn cử như Indonesia đang trong lộ trình điều chỉnh tuổi nghỉ hưu từ 55 lên 65; Malaysia điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu từ 60 lên 65 tuổi; Hàn Quốc dự kiến điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu từ 62 lên 65 tuổi vào năm 2034... Bên cạnh đó, Việt Nam đã bước qua thời kỳ dân số vàng, tiến trình già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng. Nhiều chuyên gia lo ngại về tình trạng thiếu hụt lao động trong tương lai không xa của nước ta nếu không có tính toán và điều chỉnh tuổi nghỉ hưu kịp thời. Bởi theo dự báo, nếu như năm 2015 cứ 6 người trong độ tuổi lao động có 1 người cao tuổi, thì đến năm 2055 cứ 2 người trong độ tuổi lao động sẽ có 1 người cao tuổi. Năm 2000, số người bước vào độ tuổi lao động của nước ta gấp 3,4 lần số người ra khỏi tuổi lao động, nhưng đến năm 2017 con số này chỉ còn gấp 1,36 lần và dự kiến vào năm 2035, chỉ còn gấp 1,2 lần.

Ông Diệp cho rằng, việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu là xu thế tất yếu cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp với các yếu tố đó là: tăng trưởng kinh tế với giải quyết bài toán về việc làm và thất nghiệp; sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực; trình độ kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào sản xuất; quy mô, chất lượng và cơ cấu dân số, bình đẳng giới; cân đối quỹ BHXH trong dài hạn; xu hướng già hóa dân số, tính chất, loại hình lao động và giữa các ngành nghề, lĩnh vực. Như vậy, chúng ta cần có tầm nhìn dài hạn trong điều chỉnh tuổi nghỉ hưu, thực hiện sớm, tiến hành khẩn trương theo lộ trình và không gây sốc cho thị trường lao động.

Về vấn đề này, TS. Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội cũng cho biết, việc nâng tuổi hưu đồng nghĩa với việc người lao động phải đóng tiền BHXH cao, làm cho quỹ lương hưu an toàn, có thể trả cho người lao động đến khi chết và tiền lương hưu khi đó cao hơn, đảm bảo chi tiêu cuộc sống tốt hơn cho người về hưu. “Không phải vì lo “vỡ quỹ” nên phải tính chuyện tăng tuổi nghỉ hưu, bởi hiện Nhà nước vẫn đang bảo hộ chính sách BHXH. Thậm chí, Nhà nước còn có chính sách nâng lương hưu để bù đắp trượt giá”, ông Lợi khẳng định.

Giảm số năm đóng BHXH tối thiểu

Tại Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH. Theo đó, xác định việc nâng tuổi nghỉ hưu sẽ bắt đầu áp dụng từ năm 2021; phương án điều chỉnh cụ thể sẽ được đưa ra khi trình Quốc hội sửa Bộ luật Lao động vào năm 2019. Theo ông Bùi Sỹ Lợi, thời điểm bắt đầu thay đổi tuổi nghỉ hưu từ năm 2021 gắn với cải cách BHXH và cải cách chính sách tiền lương là hợp lý. Đồng thời, việc tăng tuổi nghỉ hưu cũng sẽ không ảnh hưởng đến cơ hội việc làm của giới trẻ, bởi đào tạo lao động hiện nay là đào tạo theo nhu cầu thị trường, lao động giỏi luôn có cơ hội việc làm tốt.

Ông Doãn Mậu Diệp cho biết, theo nội dung của lần cải cách BHXH này, ngoài việc nâng tuổi nghỉ hưu, sẽ thiết kế sửa đổi điều kiện hưởng chế độ hưu trí theo hướng giảm số năm đóng BHXH tổi thiểu từ 20 năm xuống 15 năm và 10 năm với mức hưởng phù hợp. Theo quy định của Luật BHXH hiện hành, để được hưởng chế độ hưu trí, người lao động cần đáp ứng được đồng thời điều kiện về tuổi đời và thời gian tối thiểu tham gia BHXH. Hiện nay, quy định thời gian tham gia tối thiểu 20 năm mới được hưởng chế độ hưu trí cũng gây trở ngại nhất định cho việc mở rộng diện bao phủ BHXH. Cũng theo ông Diệp, quy định về thời gian tối thiểu để nhận lương hưu giảm xuống 15 năm hay 10 năm không hề ảnh hưởng đến khả năng cân đối của Quỹ BHXH như một số ý kiến lo ngại, vì nguyên tắc BHXH là mức hưởng được tính toán phù hợp với mức đóng và thời gian đóng.

Việc điều chỉnh giảm dần số năm đóng BHXH tối thiểu để được hưởng chế độ hưu trí, cũng như việc thiết kế chặt chẽ hơn trong quy định hưởng chế độ BHXH một lần, sẽ góp phần thực hiện mục tiêu về mở rộng diện bao phủ BHXH. Đồng thời, việc điều chỉnh này cũng đảm bảo cho nhiều người lao động có cơ hội và điều kiện tiếp tục tham gia BHXH để hưởng lương hưu hàng tháng thay cho việc lựa chọn BHXH một lần; hướng tới mục tiêu đảm bảo an sinh lâu dài cho người dân.

Bộ LĐ-TB&XH đề xuất 2 phương án tăng tuổi hưu, tiến tới tuổi nghỉ hưu của nam sẽ đạt tuổi 62 vào năm 2028 và nữ đạt tuổi 60 vào năm 2035:

Phương án 1: Từ năm 2021, thực hiện điều chỉnh tuổi nghỉ hưu, mỗi năm tăng 3 tháng đối với nam cho đến khi đạt tuổi 62, mỗi năm tăng 6 tháng đối với nữ cho đến khi đạt tuổi 60.

Phương án 2: Từ năm 2021, thực hiện điều chỉnh tuổi nghỉ hưu, mỗi năm tăng 3 tháng đối với nam cho đến khi đạt tuổi 62, mỗi năm tăng 4 tháng đối với nữ cho đến khi đạt tuổi 60.

Mai Lâm

Mai Lâm

Đọc thêm

BAC A BANK tặng loa và miễn phí SIM 4G cho hộ kinh doanh

BAC A BANK tặng loa và miễn phí SIM 4G cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Đồng hành cùng hộ kinh doanh, BAC A BANK tiếp tục mang đến ưu đãi thiết thực cho khách hàng đăng ký tham gia chương trình “Ting Ting thảnh thơi – Săn hời ưu đãi” từ 03/09/2026 đến hết 28/02/2027.
Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

(TBTCO) - Tín dụng tăng nhanh hơn huy động, nới khoảng cách lên 2,8 triệu tỷ đồng, gia tăng nhiều sức ép. Trong khi nợ xấu gây “kẹt” dòng tiền quay vòng, các ngân hàng tìm cách đa dạng nguồn vốn, còn nhà điều hành dùng nhiều công cụ “nới” không gian thanh khoản, đáp ứng nhu cầu tín dụng tăng cao cuối năm.
Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

(TBTCO) - Dư nợ nhóm ngân hàng niêm yết tăng 8,9% nửa đầu năm, trong đó, cho vay trung, dài hạn tăng cao hơn, đẩy tỷ trọng chiếm 47,3% tổng dư nợ. Xu hướng kéo dài kỳ hạn cho vay được kỳ vọng hỗ trợ NIM, khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được nới lên 40%, song lợi ích trước mắt cũng đặt áp lực lớn hơn lên cân đối nguồn vốn.
Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (31/8): Tỷ giá trong nước đi ngang dịp nghỉ lễ, DXY giữ nhịp nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (31/8): Tỷ giá trong nước đi ngang dịp nghỉ lễ, DXY giữ nhịp nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/8, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.610 đồng/USD trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh, trong khi chỉ số DXY quanh 99,6 điểm. Đồng USD được hỗ trợ khi kỳ vọng Fed nâng lãi suất trong tháng 9 gia tăng, rủi ro lạm phát còn hiện hữu và căng thẳng Mỹ - Iran leo thang, sau khi Mỹ tấn công các vị trí quân sự của Iran lần đầu tiên trong hơn một tháng.
Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 31/8 tăng nhẹ lên 4.459 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước nhìn chung ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 ▼700K 148,300 ▼400K
Hà Nội - PNJ 145,000 ▼700K 148,300 ▼400K
Đà Nẵng - PNJ 145,000 ▼700K 148,300 ▼400K
Miền Tây - PNJ 145,000 ▼700K 148,300 ▼400K
Tây Nguyên - PNJ 145,000 ▼700K 148,300 ▼400K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 ▼700K 148,300 ▼400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▼30K 14,840 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▼30K 14,840 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▼30K 14,840 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,540 ▲10K 14,890 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,540 ▲10K 14,890 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,540 ▲10K 14,890 ▲20K
NL 99.99 13,600 ▼200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▼200K
Trang sức 99.9 14,200 ▲20K 14,800 ▲20K
Trang sức 99.99 14,210 ▲20K 14,810 ▲20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼3K 1,484 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▼3K 14,842 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▼3K 14,843 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,449 ▼3K 1,479 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,449 ▼3K 148 ▼1335K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,424 ▼3K 1,469 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▼297K 145,446 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,536 ▼225K 110,336 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,252 ▼204K 100,052 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,968 ▼183K 89,768 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,001 ▼175K 85,801 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,613 ▼126K 61,413 ▼126K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼3K 1,484 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼3K 1,484 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼3K 1,484 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼3K 1,484 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼3K 1,484 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼3K 1,484 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼3K 1,484 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼3K 1,484 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼3K 1,484 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼3K 1,484 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼3K 1,484 ▼3K
Cập nhật: 03/09/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18220 18495 19079
CAD 18366 18642 19262
CHF 31592 31972 32616
CNY 0 3840 3937
EUR 29642 29864 30945
GBP 34406 34798 35730
HKD 0 3196 3399
JPY 160 163 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14993 15581
SGD 20028 20311 20881
THB 706 769 822
USD (1,2) 25828 0 0
USD (5,10,20) 25868 0 0
USD (50,100) 25896 25910 26280
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,900 25,900 26,280
USD(1-2-5) 24,864 - -
USD(10-20) 24,864 - -
EUR 29,681 29,705 31,113
JPY 161.35 161.64 171.4
GBP 34,560 34,654 35,851
AUD 18,351 18,417 19,114
CAD 18,515 18,574 19,258
CHF 31,836 31,935 32,870
SGD 20,128 20,191 20,981
CNY - 3,809 3,954
HKD 3,259 3,269 3,407
KRW 17.7 18.46 20.08
THB 753.55 762.86 816.53
NZD 14,947 15,086 15,533
SEK - 2,672 2,766
DKK - 3,981 4,122
NOK - 2,754 2,851
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,027.31 - 6,802.85
TWD 741.24 - 898
SAR - 6,829 7,193.07
KWD - 82,684 87,978
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,666 29,785 30,979
GBP 34,554 34,693 35,724
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,549 31,676 32,596
JPY 160.34 160.98 168.96
AUD 18,343 18,417 19,013
SGD 20,167 20,248 20,845
THB 767 770 806
CAD 18,504 18,578 19,172
NZD 15,029 15,573
KRW 18.35 20.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25915 25915 26275
AUD 18397 18497 19420
CAD 18539 18639 19655
CHF 31824 31854 33428
CNY 3823.3 3848.3 3983.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29827 29857 31582
GBP 34709 34759 36519
HKD 0 3330 0
JPY 163.36 163.86 174.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.5 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15095 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20184 20314 21038
THB 0 735.7 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,835 25,865 26,270
USD20 25,815 25,865 26,845
USD1 25,765 25,865 26,895
AUD 18,359 18,459 19,605
EUR 29,525 29,625 31,349
CAD 18,414 18,514 19,863
SGD 20,184 20,334 21,642
JPY 161.32 162.82 168.75
GBP 34,511 34,661 35,810
XAU 14,748,000 0 14,872,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/09/2026 22:00
Ngân hàng