"Gió ngược" yếu dần, tận dụng cơ hội để tạo đà tăng trưởng năm 2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Các chuyên gia cho rằng, triển vọng kinh tế toàn cầu các tháng cuối năm 2024 có phần tích cực, các "cơn gió ngược" đang có dấu hiệu yếu dần đi, đặc biệt chính sách tiền tệ dần được nới lỏng. Nhờ đó, kinh tế trong nước phục hồi khá mạnh, vững chắc trong năm 2024 và có thể tận dụng cơ hội để tạo đà tăng trưởng năm tới.
aa

Ngày 12/12 tại Ninh Thuận, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (NFSC) phối hợp với Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) tổ chức Hội thảo “Thị trường tài chính Việt Nam: Triển vọng và định hướng chính sách”.

Triển vọng toàn cầu sáng dần

Phát biểu tại hội thảo, ông Vũ Nhữ Thăng - Phó Chủ tịch phụ trách Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia nhấn mạnh, bối cảnh kinh tế toàn cầu và trong nước những tháng cuối năm 2024 tiếp tục đặt ra nhiều thách thức. Báo cáo gần đây từ Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cảnh báo, áp lực lạm phát kéo dài, sự bất ổn của thị trường tài chính và những yếu tố địa chính trị phức tạp tiếp tục cản trở sự phục hồi kinh tế.

Rủi ro hiện hữu từ xung đột địa chính trị như Nga-Ukraine, Biển Đỏ, Trung Đông; thời tiết cực đoan phức tạp, có thể tác động mạnh đến thành tựu kinh tế của nhiều quốc gia cùng xu hướng gia tăng các quy định phòng vệ thương mại ở các thị trường xuất khẩu.

Những "cơn gió ngược" yếu dần, tận dụng cơ hội để tạo đà tăng trưởng năm 2025.

Đặc biệt, tình hình chính trị của nhiều nước lớn có sự thay đổi quan trọng trong năm nay, tác động đến cục diện chính trị nội bộ, dự báo sẽ có cơ hội nhưng cũng để lại nhiều hệ lụy và tiềm ẩn rủi ro thay đổi chính sách trong thời gian tới.

“Tuy nhiên, triển vọng kinh tế toàn cầu các tháng cuối năm 2024 có nhiều phần tích cực nhờ khả năng thích ứng tốt của nền kinh tế Mỹ, lạm phát được kiềm chế tốt ở các nước phát triển, làn sóng cắt giảm lãi suất của các ngân hàng trung ương trên thế giới tiếp tục mở rộng, dẫn đầu bởi Fed (Cục Dự trữ Liên bang Mỹ), ECB (Ngân hàng Trung ương châu Âu), BoE (Ngân hàng Trung ương Anh) thúc đẩy các hoạt động sản xuất tiêu dùng” - ông Thăng nêu rõ.

Cũng theo ông Thăng, ở trong nước, GDP 9 tháng năm 2024 tăng trưởng ấn tượng, đạt mức 6,82% so với cùng kỳ năm trước nhờ điểm sáng của hoạt động xuất khẩu và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Các tổ chức quốc tế như WB, IMF đều nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam trong năm nay, đồng thời đề cao các hành động nhanh chóng của các cơ quan chức năng để duy trì ổn định tài chính vĩ mô trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy bấp bênh.

Tuy vậy, Việt Nam cũng gặp tốc độ giải ngân vốn đầu tư công còn chậm, ước tính hết tháng 11 chỉ đạt 54,7% tổng kế hoạch. Trong đó, tỷ lệ giải ngân đầu tư công nguồn vốn nước ngoài (ODA) 11 tháng qua chỉ đạt con số khiêm tốn 39,06%. Các xung đột trên thế giới cũng ảnh hưởng mạnh tới thị trường hàng hóa Việt Nam.

“Sứp ép tỷ giá cũng hiện hữu rõ rệt, đặc biệt là trong hai tháng 10 và 11, thúc đẩy hoạt động bán ròng kỷ lục của các nhà đầu tư nước ngoài. Tăng trưởng tín dụng đến hết tháng 10 đạt 10,08%, vẫn thấp so với mục tiêu 15% được đặt ra từ đầu năm” - lãnh đạo Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia đánh giá.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục chịu rủi ro thường trực của nhiều xung đột kéo dài với các diễn biến phức tạp, kinh tế Việt Nam sẽ luôn bị đặt vào thế rủi ro bất định nhưng cũng vì thế lại đem lại những thuận lợi nhất định đối với Việt Nam.

Nắm bắt cơ hội khi dần nới lỏng chính sách tiền tệ

Nêu rõ diễn biến nổi bật trên thị trường tài chính - tiền tệ thế giới, ông Nguyễn Mạnh Hà - Phó Trưởng ban Ban Nghiên cứu và Điều phối Chính sách Giám sát (Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia) cho biết, sau giai đoạn thắt chặt, Mỹ đã giảm lãi suất 2 lần vào tháng 9 và tháng 11 nhưng mức giảm không nhiều (tương ứng 0,5 điểm% và 0,25 điểm%), đưa lãi suất điều hành của Mỹ xuống mức 4,5-4,75%.

Dự báo Mỹ có thể tiếp tục giảm lãi suất trong năm 2025 nhưng tiến độ sẽ chậm lại so với dự kiến ban đầu. Các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới cũng có xu hướng giảm lãi suất.

Trong nước, tăng trưởng tín dụng đạt 12% tính đến cuối tháng 11/2024; tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản tiếp tục tăng cao hơn so với mức tăng chung. "Tín dụng tiếp tục là kênh cung ứng vốn chính cho nền kinh tế; mặt bằng lãi suất cho vay được duy trì ở mức thấp nhằm góp phần giúp doanh nghiệp giảm chi phí đi vay, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế" - ông Hà nhận định.

Hội thảo thu hút nhiều diễn giả trong và ngoài nhằm đánh giá tác động của bối cảnh kinh tế, chính trị toàn cầu năm 2025 đối với thị trường tài chính Việt Nam.

Ông Lê Xuân Sang - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cũng cho biết, tác động của ba "cơn gió ngược" từ kinh tế thế giới dần yếu đi do lạm phát có xu hướng chững lại và bắt đầu giảm tương đối rõ nét; mức độ thắt chặt chính sách tiền tệ dần được nới lỏng cùng mức độ suy giảm, suy thoái tăng trưởng kinh tế đã giảm nhẹ.

"Kinh tế Việt Nam phục hồi khá mạnh, vững chắc trong năm 2024. Các yếu tố bên ngoài tác động bao gồm ba cơn gió ngược yếu đi, một phần thành cơn gió xuôi và các cơn gió xuôi khác nhằm hỗ trợ tăng trưởng" - ông Sang đánh giá.

Vì vậy, lãnh đạo Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, Việt Nam cần nắm bắt cơ hội khi các cơn gió ngược ngày càng yếu, tạo đà, đẩy một số cơn gió bắt đầu chuyển từ ngược sang xuôi để thúc đẩy tăng trưởng thông qua các công cụ chính sách và nguồn lực. Nắm bắt, tận dụng cơ hội và khai thác tối đa từ ba cơn gió xuôi đó là: các hiệp định thương mại tự do, tình hình thương chiến và tận dụng địa kinh tế.

Về thách thức, theo ông Sang, chúng ta cần nhận thức rõ để giảm thiểu tác động bất lợi từ Trung Quốc liên quan dến cơn lốc hàng giá rẻ nói chung và thương mại điện tử nói riêng; hay tính đến đầy đủ tác động của kinh tế số và tài chính số và thương mại số...

Chỉ rõ một số rủi ro khác, ông Nguyễn Mạnh Hà cho rằng, cần cần lưu ý về yếu tố “bất định” trong chính sách của Tổng thống đắc cử Donald Trump, nợ công toàn cầu tăng mạnh; thị trường tài sản tăng mạnh như bất động sản, vàng, coins… Ngoài ra, nợ xấu nói chung và nợ xấu cho vay bất động sản nói riêng có xu hướng tăng trong khi khả năng bao phủ nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng suy giảm.

Ông Jung Jae Woo - Phó Giám đốc Văn phòng KOICA Việt Nam cho rằng, Việt Nam không chỉ đơn thuần là một nước hưởng lợi từ thị trường tài chính toàn cầu mà đang nổi lên như một động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế đổi mới, ổn định trong khu vực và thế giới. Việc phát hiện sớm những khó khăn tài chính trong nền kinh tế quốc gia và chuẩn bị các biện pháp đối phó là cực kỳ quan trọng.

Dự án “Nâng cao năng lực cảnh báo sớm và quản lý rủi ro cho khu vực tài chính Việt Nam” do KOICA tài trợ sẽ giúp Việt Nam phát triển năng lực cốt lõi trong phát hiện khủng hoảng trong nền kinh tế toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng, dự báo xu hướng và chuẩn bị các biện pháp ứng phó.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (27/3): Đồng USD chững nhịp nhưng vẫn neo cao, nhiều đồng tiền khác suy yếu

Tỷ giá USD hôm nay (27/3): Đồng USD chững nhịp nhưng vẫn neo cao, nhiều đồng tiền khác suy yếu

(TBTCO) - Sáng ngày 27/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.100 VND/USD, giảm 2 đồng so với phiên trước đó. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) biến động hẹp, giảm nhẹ 0,06% hiện ở mức 99,87 điểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,840 ▼140K 17,140 ▼140K
Kim TT/AVPL 16,850 ▼130K 17,150 ▼130K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,840 ▼140K 17,140 ▼140K
Nguyên Liệu 99.99 15,860 ▼140K 16,060 ▼140K
Nguyên Liệu 99.9 15,810 ▼140K 16,010 ▼40K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,660 ▼140K 17,060 ▼140K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,610 ▼140K 17,010 ▼140K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,540 ▼140K 16,990 ▼140K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,400 ▼1400K 171,400 ▼1400K
Hà Nội - PNJ 168,400 ▼1400K 171,400 ▼1400K
Đà Nẵng - PNJ 168,400 ▼1400K 171,400 ▼1400K
Miền Tây - PNJ 168,400 ▼1400K 171,400 ▼1400K
Tây Nguyên - PNJ 168,400 ▼1400K 171,400 ▼1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,400 ▼1400K 171,400 ▼1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,840 ▼140K 17,140 ▼140K
Miếng SJC Nghệ An 16,840 ▼140K 17,140 ▼140K
Miếng SJC Thái Bình 16,840 ▼140K 17,140 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,840 ▼140K 17,140 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,840 ▼140K 17,140 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,840 ▼140K 17,140 ▼140K
NL 99.90 15,720 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,750 ▼100K
Trang sức 99.9 16,330 ▼140K 17,030 ▼140K
Trang sức 99.99 16,340 ▼140K 17,040 ▼140K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,684 ▼14K 17,142 ▼140K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,684 ▼14K 17,143 ▼140K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,682 ▼14K 1,712 ▼14K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,682 ▼14K 1,713 ▼14K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,662 ▼14K 1,697 ▼14K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 16,152 ▼146754K 16,802 ▼152604K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,538 ▼1050K 127,438 ▼1050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,658 ▲95897K 115,558 ▲103907K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,777 ▼854K 103,677 ▼854K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,195 ▼816K 99,095 ▼816K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,022 ▼584K 70,922 ▼584K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,684 ▼14K 1,714 ▼14K
Cập nhật: 30/03/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17502 17774 18348
CAD 18409 18686 19305
CHF 32285 32668 33318
CNY 0 3470 3830
EUR 29647 29919 30951
GBP 34066 34456 35393
HKD 0 3230 3433
JPY 157 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14760 15349
SGD 19886 20168 20685
THB 716 779 832
USD (1,2) 26057 0 0
USD (5,10,20) 26098 0 0
USD (50,100) 26127 26146 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,355
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,771 29,795 31,027
JPY 160.12 160.41 169.04
GBP 34,253 34,346 35,316
AUD 17,711 17,775 18,332
CAD 18,596 18,656 19,227
CHF 32,552 32,653 33,418
SGD 20,005 20,067 20,724
CNY - 3,774 3,891
HKD 3,293 3,303 3,420
KRW 16.05 16.74 18.1
THB 760.85 770.25 819.11
NZD 14,759 14,896 15,242
SEK - 2,730 2,810
DKK - 3,984 4,099
NOK - 2,653 2,731
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,122.85 - 6,873.27
TWD 741.69 - 893
SAR - 6,895.92 7,218.79
KWD - 83,461 88,258
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,739 29,858 31,031
GBP 34,274 34,412 35,411
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,398 32,528 33,434
JPY 160.83 161.48 168.70
AUD 17,701 17,772 18,354
SGD 20,085 20,166 20,740
THB 779 782 816
CAD 18,612 18,687 19,249
NZD 14,847 15,374
KRW 16.71 18.32
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26355
AUD 17700 17800 18725
CAD 18608 18708 19724
CHF 32573 32603 34190
CNY 3750.6 3775.6 3910.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29850 29880 31608
GBP 34394 34444 36204
HKD 0 3355 0
JPY 161.17 161.67 172.18
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14892 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20052 20182 20915
THB 0 742.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17000000 17000000 17600000
SBJ 15000000 15000000 17600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,355
USD20 26,156 26,206 26,355
USD1 23,845 26,206 26,355
AUD 17,786 17,886 19,022
EUR 29,996 29,996 31,440
CAD 18,542 18,642 19,971
SGD 20,116 20,266 21,500
JPY 161.19 162.69 167.4
GBP 34,298 34,648 35,555
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/03/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80