Hà Nội phấn đấu năm 2025 tăng trưởng đạt 8% trở lên

Nam Khánh
(TBTCO) - Ngày 25/2, tại Kỳ họp thứ 21, HĐND TP. Hà Nội đã thông qua Nghị quyết bổ sung về phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trở lên.
aa

Điều chỉnh nâng chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế từ 6,5% lên 8%

Theo nghị quyết, GRDP tăng 8% trở lên, trong đó: Dịch vụ tăng 8,6% trở lên; Công nghiệp tăng 7% trở lên; Xây dựng tăng 8,9% trở lên; nông nghiệp tăng 3,1% trở lên; thuế sản phẩm tăng 5,7% trở lên. GRDP/người đạt 175 triệu đồng; vốn đầu tư xã hội 622,7 nghìn tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu tăng 7%; chỉ số CPI dưới 5%.

Trước đó, điều hành phần thảo luận về nội dung này, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND TP Phùng Thị Hồng Hà cho biết, nhiệm vụ đạt mức tăng trưởng kinh tế Thủ đô 8% trong năm 2025 đã được Chính phủ giao cho Hà Nội tại Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 5/2/2025.

Việc UBND TP. Hà Nội trình điều chỉnh nâng chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2025 từ 6,5% tại Nghị quyết số 58/NQ-HĐND ngày 10/12/2024 tăng lên tối thiểu 8% với các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm bổ sung là thể hiện quyết tâm, nỗ lực của thành phố trong thực hiện nhiệm vụ mà Trung ương đã giao.

Hà Nội phấn đấu năm 2025 tăng trưởng đạt 8% trở lên
Kỳ họp thứ 21, HĐND TP. Hà Nội diễn ra ngày 25/2/2025.

Tại hội nghị, Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND TP. Hà Nội cũng đề nghị UBND làm rõ thêm một số nội dung và để thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2025 đạt từ 8% trở lên, đề nghị UBND TP.Hà Nội xây dựng kế hoạch hành động chi tiết, cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp trong báo cáo, phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng đơn vị, địa phương...

HĐND TP. Hà Nội cũng thống nhất với tờ trình của UBND TP. Hà Nội về điều chỉnh một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Trong đó, đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền và cải cách thủ tục hành chính. Bảo đảm tiến độ xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để cụ thể hóa Luật Thủ đô 2024; xây dựng kế hoạch thực hiện Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065.

Cùng với đó, hoàn thành sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, không ảnh hưởng đến người dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; thực hiện phân cấp, ủy quyền triệt để trong từng ngành, lĩnh vực. Tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian và giảm chi phí cho doanh nghiệp; tháo gỡ khó khăn, điểm nghẽn, vướng mắc trong sản xuất kinh doanh và triển khai các dự án đầu tư cả trong và ngoài ngân sách, nhất là các nhóm có thủ tục hồ sơ hành chính nhiều giao dịch như: tư pháp, đất đai, xây dựng, lao động - thương binh và xã hội, bảo hiểm, thuế...

Phát huy tối đa và làm mới các động lực truyền thống

HĐND TP. Hà Nội cũng tán thành về việc TP. Hà Nội phát huy tối đa và làm mới các động lực truyền thống. Khơi thông và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư công: Xây dựng kế hoạch tiến độ, giải ngân từng tháng, từng dự án ngay từ đầu năm, phấn đấu giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2025 đạt trên 95%. Tập trung cao độ, giải quyết khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các dự án, trọng tâm là: Các dự án sử dụng vốn ngân sách trung ương; các dự án thực hiện đã quá thời gian bố trí kế hoạch vốn (nhóm A 6 năm, nhóm B 4 năm, nhóm C 3 năm); các dự án hết năm 2024 là hết thời gian thực hiện nhưng đến nay chưa được phê duyệt điều chỉnh thời gian thực hiện dự án để đủ điều kiện bố trí vốn; các dự án đã được phê duyệt chủ trương đầu tư nhưng chưa được phê duyệt dự án; các dự án trọng điểm (khởi công cầu Tứ Liên, tuyến đường sắt đô thị số 5…;

Về thúc đẩy xuất khẩu, thành phố theo dõi sát diễn biến thị trường và hàng rào thuế quan của các quốc gia, nhất là chính sách thương mại của Mỹ trong bối cảnh hiện nay; xây dựng các kịch bản thích ứng kịp thời các tình huống, tận dụng các yếu tố thuận lợi để tăng kim ngạch xuất khẩu.

Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án dự kiến hoàn thành trong năm 2025 như: Hệ thống tiêu nước khu vực phía Tây thành phố; Tuyến đường Tây Thăng Long từ đường Phạm Văn Đồng đến đường Văn Tiến Dũng thuộc địa bàn quận Bắc Từ Liêm và dự án thành phần 1 của Dự án Vành đai 4...

Hà Nội phấn đấu năm 2025 tăng trưởng đạt 8% trở lên
Hà Nội phấn đấu năm 2025 tăng trưởng đạt 8% trở lên. Ảnh: TL

Thành phố tiếp tục thúc đẩy đầu tư tư nhân, các ngành công nghiệp có thế mạnh. Cụ thể, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Thường xuyên tổ chức các diễn đàn để kịp thời tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng đầu tư, sản xuất kinh doanh. Phấn đấu số doanh nghiệp đăng ký mới tăng trên 2%.

Xây dựng danh mục kêu gọi đầu tư, tập trung thu hút vào các ngành công nghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trường, các ngành công nghiệp như chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi năng lượng, điện tử - tin học, chế tạo và lắp ráp ô tô, công nghiệp hỗ trợ phục vụ công nghệ cao,công nghệ sinh học, hóa dược…

Về thúc đẩy tiêu dùng, thu hút khách du lịch, thành phố kêu gọi đầu tư khu thương mại Outlet; đầu tư xây dựng chợ đầu mối Yên Thường, Gia Lâm, chợ đầu mối nông sản tổng hợp tại Mê Linh; xây dựng đảm bảo 50% số xã có điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP; có thêm ít nhất 01 trung tâm thương mại, 6 siêu thị, 15 chợ trên địa bàn.../.

Để thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, Hà Nội sẽ mở rộng không gian phát triển, chuẩn bị đầu tư hạ tầng để từng bước hình thành thành phố phía Tây (đẩy nhanh tiến độ Đường Vành đai 4 Vùng Thủ đô Hà Nội; chuẩn bị đầu tư và khởi công cầu Tứ Liên, cầu Thượng Cát); thành phố phía Bắc sông Hồng (khởi công Tuyến đường sắt đô thị số 5 (Văn Cao - Hòa Lạc - Xuân Mai); Đẩy nhanh tiến độ Đường cao tốc Đại lộ Thăng Long đoạn nối từ Quốc lộ 21 đến cao tốc Hà Nội - Hòa Bình; Quốc lộ 6; Trục tây Thăng Long...). Chuẩn bị đầu tư để phát triển 5 trục động lực: Trục sông Hồng; Trục Hồ Tây - Cổ Loa; Trục Nhật Tân - Nội Bài; Trục Hồ Tây - Ba Vì; Trục phía Nam...
Nam Khánh

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80