HDBank đặt mục tiêu lợi nhuận đầy tham vọng với hơn 21.000 tỷ đồng

Hải Băng
(TBTCO) - Ngày 24/4, Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank – mã Ck: HDB) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025. Cùng với việc đặt kế hoạch lợi nhuận trước thuế đầy tham vọng với hơn 21.000 tỷ đồng, HDBank đang cho thấy sự vững vàng trên hành trình phát triển Tập đoàn Tài chính Ngân hàng hiện đại, đa năng và bền vững.
aa

Đại hội năm nay đánh dấu cột mốc 35 năm hình thành và phát triển của HDBank – hành trình bền bỉ xây dựng niềm tin, đồng hành cùng khách hàng, cổ đông và nền kinh tế quốc gia. HDBank đang chuyển mình mạnh mẽ để kiến tạo HD Financial Group – một Tập đoàn Tài chính Ngân hàng hiện đại, đa năng, tích hợp công nghệ và dịch vụ toàn diện.

Vượt nhiều biến động, tăng trưởng toàn diện

Tại đại hội, ông Phạm Quốc Thanh - thành viên Hội đồng Quản trị kiêm Quyền Tổng giám đốc cho biết, năm 2024 vừa qua, vượt qua nhiều biến động kinh tế – tài chính, Ngân hàng tiếp tục định hướng phát triển vững chắc, quản trị rủi ro hiệu quả và tăng trưởng toàn diện.

Cụ thể, tổng tài sản HDBank tăng trưởng liên tiếp trong nhiều năm liền đạt 697.366 tỷ đồng, tăng 15,8% so với năm 2023 và hoàn thành 99,5% kế hoạch. Chất lượng tài sản của HDBank được kiểm soát ở mức cao với tỷ lệ nợ xấu thấp, tỷ lệ an toàn vốn cao hơn mức quy định của Ngân hàng Nhà nước và nằm trong TOP những ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn cao.

Cuối năm 2024, HDBank tiếp nhận Ngân hàng TMCP Đông Á theo phương án chuyển giao của Chính phủ, Ngân hàng nhà nước – một dấu mốc cho thấy năng lực tài chính, uy tín và tinh thần tiên phong của HDBank. Đồng thời, ngân hàng số Vikki chính thức ra đời, hoạt động độc lập, về tài chính và nhanh chóng tăng trưởng, góp phần mở rộng hệ sinh thái số hóa toàn diện của HDBank.

Tổng dư nợ tín dụng đạt 437.731 tỷ đồng, tăng 23,85% so với năm 2023, tốc độ tăng trưởng tín dụng của HDBank năm 2024 thuộc nhóm các ngân hàng có tỷ lệ tăng trưởng tín dụng cao, cao hơn so với bình quân chung của toàn ngành và nằm trong giới hạn được như giao.

Năm 2024, lợi nhuận trước thuế đạt 16.730 tỷ đồng, tăng 28,5% so với 2023, vượt kế hoạch đề ra. Tổng tài sản đạt 697.366 tỷ đồng, tăng 15,8%; dư nợ tín dụng đạt 437.731 tỷ đồng (+23,9,%); huy động vốn đạt 621.119 tỷ đồng (+15,7%). Chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hưu (ROE) đạt 25,71%; và chỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) đạt 2,04%, duy trì trong nhóm ngân hàng có hiệu quả cao nhất.

Năm qua, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp chỉ 1,48%, cùng các chỉ tiêu an toàn khác đều ở mức tích cực.

HDBank đặt mục tiêu lợi nhuận đầy tham vọng với hơn 21.000 tỷ đồng
Toàn cảnh Đại hội đồng cổ đông HDBank.

Đặc biệt, Moody’s đã nâng hạng tín nhiệm cơ sở (BCA) của HDBank lên mức Ba3 – một trong những mức cao nhất trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, ghi nhận nỗ lực quản trị, hiệu quả vận hành và tiềm năng tăng trưởng bền vững của ngân hàng.

Năm 2025 – Vững tin tăng tốc, đồng hành cùng sự phát triển của đất nước

Được sự đồng thuận cao của cổ đông, HDBank đặt ra các mục tiêu kinh doanh đầy khát vọng cho năm 2025.

Ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 21.179 tỷ đồng, tăng 27% – một trong những mức tăng cao nhất ngành. ROE kỳ vọng đạt 26,2%, ROA đạt 2,15% – tiếp tục giữ vững vị thế ngân hàng hiệu quả hàng đầu. Tổng tài sản hướng tới 890.442 tỷ đồng (+28%), dư nợ tín dụng đạt 579.851 tỷ đồng (+32%), huy động vốn 792.812 tỷ đồng (+28%). Tỷ lệ nợ xấu kiểm soát dưới 2%, đảm bảo sự ổn định và an toàn hệ thống.

Về cổ tức, HDBank báo cáo nguồn lợi nhuận có thể phân phối năm 2024 là 10.396 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ chia cổ tức dự kiến 28%. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, ngân hàng sẽ linh hoạt, thận trọng và xin ý kiến cổ đông tại thời điểm phù hợp để đảm bảo năng lực tài chính cho phát triển bền vững lâu dài.

HDBank đặt mục tiêu lợi nhuận đầy tham vọng với hơn 21.000 tỷ đồng
Lãnh đạo HDBank trao đổi với cổ đông tại Đại hội.

Đại hội cũng chính thức công bố chiến lược phát triển HD Financial Group, gồm các đơn vị thành viên: HDBank – Ngân hàng thương mại chủ lực; Vikki Digital Bank – Ngân hàng số thế hệ mới; HD SAISON – Tài chính tiêu dùng; HD Securities – Chứng khoán; HD Insurance – Bảo hiểm; HD Capital – Quản lý quỹ; Đông Á Money Transfer – Dịch vụ kiều hối.

Về cổ tức, HDBank báo cáo nguồn lợi nhuận có thể phân phối năm 2024 là 10.396 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ chia cổ tức dự kiến 28%. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, ngân hàng sẽ linh hoạt, thận trọng và xin ý kiến cổ đông tại thời điểm phù hợp để đảm bảo năng lực tài chính cho phát triển bền vững lâu dài.

Với hơn 30 triệu khách hàng, mạng lưới hơn 600 điểm giao dịch ngân hàng và 26.500 điểm tài chính, cùng năng lực công nghệ tiên phong, HD Financial Group hướng tới mục tiêu mang đến trải nghiệm tài chính liền mạch, đa dạng, nhanh chóng và hiệu quả cho người dân, doanh nghiệp trên khắp cả nước và quốc tế.

Chủ tịch HĐQT HDBank Kim Byoungho phát biểu “Chúng tôi luôn hành động cho sự minh bạch, cho nền tảng của niềm tin. Và chính niềm tin ấy là tài sản vô giá để HDBank không ngừng thu hút nhà đầu tư, nâng cao vị thế trên thị trường và tạo ra giá trị bền vững cho tất cả cổ đông.”

Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thảo – Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Quản trị HDBank chia sẻ: “Chúng ta không chỉ tự hào về những con số – như mục tiêu lợi nhuận năm 2025 hơn 21.000 tỷ đồng, tổng tài sản đang hướng tới 1 triệu tỷ đồng - mà quan trọng hơn, là niềm tin vào tương lai của một HDBank phát triển vững chắc, minh bạch và hướng đến chuẩn mực quốc tế”.

Trong nhiều năm qua, HDBank kiên định xây dựng mô hình quản trị doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế, mang lại giá trị tăng trưởng cao cho nhà đầu tư: Tăng cường vai trò độc lập của Hội đồng Quản trị; Minh bạch trong công bố thông tin và quản trị rủi ro; Tuân thủ chặt chẽ các quy định pháp lý, chuẩn mực đạo đức và lợi ích hài hòa giữa cổ đông, khách hàng và cộng đồng./.

Hải Băng

Đọc thêm

Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

(TBTCO) - Tín dụng kinh doanh bất động sản quý đầu năm đang dần giảm nhiệt khi nhiều ngân hàng chủ động hãm đà cho vay dưới áp lực siết room tín dụng, thậm chí đã có 3 nhà băng ghi nhận dư nợ giảm so với đầu năm. Tuy nhiên, việc giảm phụ thuộc vào lĩnh vực này vẫn không dễ, khi dư nợ bất động sản tại nhiều ngân hàng tiếp tục tăng nhanh hơn dư nợ cho vay khách hàng.
Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

(TBTCO) - Ngày 25/5/2026, Công ty cổ phần Vinhomes chính thức triển khai chương trình hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản, góp phần đưa nguồn vàng nhàn rỗi đang tích trữ trong dân trở thành dòng vốn năng động phục vụ tăng trưởng. Chương trình được triển khai trong 5 năm, với sự đồng hành của các công ty vàng bạc đá quý nhằm bảo đảm an toàn tối đa về quyền lợi và giá trị tài sản cho khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (25/5): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ, đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (25/5): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ, đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng ngày 25/5, tỷ giá trung tâm đầu tuần được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.136 đồng, tăng 2 đồng. Trong khi chỉ số DXY duy trì quanh 99,24 điểm, tiến gần ngưỡng tâm lý 100 điểm. Đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục nâng lãi suất trước cuối năm, trong bối cảnh thị trường theo dõi sát diễn biến địa chính trị và áp lực lạm phát.
Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

(TBTCO) - Sự nhập cuộc ngày càng mạnh mẽ của các ngân hàng đang khiến thị trường bảo hiểm phi nhân thọ bước vào một giai đoạn cạnh tranh mới. Khi nhóm doanh nghiệp gắn với ngân hàng đã nắm khoảng 35% thị phần, “ván cờ” thị phần trở nên khó đoán hơn, kéo theo những tính toán chiến lược mới của doanh nghiệp hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

(TBTCO) - Mở cửa phiên ngày 25/5, giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn. Ở phân khúc vàng miếng, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ, DOJI, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý và Bảo Tín Minh Châu đồng loạt tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, mặt bằng giá giao dịch ở quanh mức 159 - 162 triệu đồng/lượng.
VCCI và Bảo hiểm PVI thiết lập hợp tác toàn diện, đồng hành nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

VCCI và Bảo hiểm PVI thiết lập hợp tác toàn diện, đồng hành nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

(TBTCO) - Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Tổng công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) đã ký kết thỏa thuận hợp tác nhằm thiết lập khuôn khổ hợp tác toàn diện trong giai đoạn 2026 – 2027, hướng tới mục tiêu đồng hành cùng doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.
Thêm một ngân hàng phối hợp thu thuế xuất nhập khẩu với hải quan

Thêm một ngân hàng phối hợp thu thuế xuất nhập khẩu với hải quan

(TBTCO) - Cục Hải quan vừa bổ sung Ngân hàng Bank of Communications (BOCOM) - Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh vào hệ thống phối hợp thu ngân sách nhà nước (NSNN) và nộp thuế điện tử 24/7. Việc mở rộng thêm ngân hàng phối hợp thu giúp doanh nghiệp có thêm kênh thanh toán thuế nhanh chóng, giảm thời gian thông quan.
Bảo hiểm Việt Nam trước bước chuyển từ bán sản phẩm sang thiết kế trải nghiệm

Bảo hiểm Việt Nam trước bước chuyển từ bán sản phẩm sang thiết kế trải nghiệm

(TBTCO) - Chuyển đổi số đang mở ra cách tiếp cận mới cho ngành bảo hiểm: không chỉ mở rộng kênh phân phối, mà còn giúp doanh nghiệp hiện diện đúng lúc, đúng nhu cầu và đúng bối cảnh trong hành trình tài chính của khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,900 16,200
Kim TT/AVPL 15,900 16,200
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,900 16,200
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,650 16,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,600 16,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,530 15,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,000 162,000
Hà Nội - PNJ 159,000 162,000
Đà Nẵng - PNJ 159,000 162,000
Miền Tây - PNJ 159,000 162,000
Tây Nguyên - PNJ 159,000 162,000
Đông Nam Bộ - PNJ 159,000 162,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,900 16,200
Miếng SJC Nghệ An 15,900 16,200
Miếng SJC Thái Bình 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,900 16,200
NL 99.90 14,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,500
Trang sức 99.9 15,390 16,090
Trang sức 99.99 15,400 16,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 159 16,202
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 159 16,203
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,585 1,615
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,585 1,616
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,565 160
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,916 158,416
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,262 120,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,061 108,961
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,886 9,776
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,539 93,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,977 66,877
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Cập nhật: 26/05/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18354 18630 19206
CAD 18545 18822 19440
CHF 33075 33461 34097
CNY 0 3844 3936
EUR 30048 30321 31352
GBP 34757 35150 36084
HKD 0 3233 3435
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15159 15750
SGD 20090 20373 20899
THB 727 790 843
USD (1,2) 26090 0 0
USD (5,10,20) 26132 0 0
USD (50,100) 26160 26175 26392
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,162 26,162 26,392
USD(1-2-5) 25,116 - -
USD(10-20) 25,116 - -
EUR 30,256 30,280 31,540
JPY 161.84 162.13 170.93
GBP 35,006 35,101 36,102
AUD 18,594 18,661 19,263
CAD 18,786 18,846 19,433
CHF 33,397 33,501 34,294
SGD 20,268 20,331 21,011
CNY - 3,824 3,947
HKD 3,307 3,317 3,435
KRW 16.12 16.81 18.19
THB 776.68 786.27 836.69
NZD 15,191 15,332 15,697
SEK - 2,797 2,879
DKK - 4,049 4,167
NOK - 2,812 2,895
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,246.13 - 7,012.46
TWD 759.19 - 914.39
SAR - 6,926.08 7,252.83
KWD - 83,883 88,734
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,142 26,162 26,392
EUR 30,104 30,225 31,404
GBP 34,903 35,043 36,051
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,105 33,238 34,177
JPY 161.98 162.63 169.97
AUD 18,521 18,595 19,184
SGD 20,284 20,365 20,947
THB 793 796 831
CAD 18,747 18,822 19,390
NZD 15,235 15,769
KRW 16.74 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26200 26200 26392
AUD 18535 18635 19563
CAD 18726 18826 19842
CHF 33309 33339 34931
CNY 3824.8 3849.8 3985.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30229 30259 31987
GBP 35057 35107 36870
HKD 0 3355 0
JPY 162.3 162.8 173.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15267 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20248 20378 21109
THB 0 756.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15900000 15900000 16200000
SBJ 14000000 14000000 16200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,185 26,235 26,392
USD20 26,185 26,235 26,392
USD1 23,880 26,235 26,392
AUD 18,594 18,694 19,817
EUR 30,388 30,388 31,825
CAD 18,701 18,801 20,124
SGD 20,348 20,498 21,077
JPY 162.98 164.48 169.16
GBP 34,945 35,295 36,189
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,792 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/05/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80