Hiệp hội Ngân hàng chủ động góp ý gỡ vướng chính sách

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngày 27/3, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) tổ chức Hội nghị Thường niên lần thứ V, nhiệm kỳ VII. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm năm 2025 được VNBA triển khai là tập trung góp ý chính sách, tháo gỡ vướng mắc cho các ngân hàng.
aa

Trên cơ sở phát huy những thành quả đạt được trong năm 2024, đồng thời, tiếp tục bám sát chỉ đạo của Chính phủ, nhiệm vụ của ngành Ngân hàng, năm 2025, Hiệp hội Ngân hàng nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2025.

Tập trung góp ý chính sách, hoàn thiện khung pháp lý

Ông Nguyễn Quốc Hùng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng cho biết, năm 2025, Hiệp hội tiếp tục tham gia góp ý cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động ngân hàng, thông qua kiến nghị cơ quan soạn thảo xem xét hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh ngân hàng.

Ngày 27/3, tại Hà Nội, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) tổ chức Hội nghị Thường niên lần thứ V, nhiệm kỳ VII.
Toàn cảnh hội nghị. Ảnh: VNBA.

Chủ động kiến nghị tháo gỡ khó khăn

Hiệp hội Ngân hàng kịp thời nắm bắt các khó khăn, vướng mắc của các tổ chức hội viên trong quá trình hoạt động để kiến nghị các cơ quan thẩm quyền xem xét tháo gỡ như: tập trung góp ý nghị quyết xử lý nợ xấu, tổng hợp vướng mắc trong thi hành án; vướng mắc về thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động thư tín dụng (L/C), vướng mắc về an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán; vướng mắc pháp lý trong hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán...

Trong đó, chú trọng góp ý, phản biện cơ chế chính sách đối với các văn bản quan trọng, tác động lớn đến hoạt động của các tổ chức tín dụng như: Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi); Luật Doanh nghiệp (sửa đổi); Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi); đề xuất Luật hóa quy định tại Nghị quyết 42/2017/QH14 về xử lý nợ xấu...

Tiếp tục phối hợp với Tòa án tháo gỡ vướng mắc về bảo vệ người thứ 3 ngay tình, hợp đồng tín dụng bị vô hiệu, phối hợp với Tổng cục Thi hành án dân sự (Bộ Tư pháp) triển khai các hoạt động để đẩy nhanh tiến độ thi hành các bản án, vụ việc liên quan.

"Trong năm 2025, Hiệp hội sẽ tổ chức tọa đàm với toà án nhân dân tối cao toàn quốc về các tranh chấp với tổ chức tín dụng" - ông Hùng thông tin.

Ngoài ra, Hiệp hội sẽ xây dựng và trình Hội đồng Hiệp hội ban hành các quy ước trong hoạt động ngân hàng như: sổ tay hướng dẫn tái cấu trúc nợ ngoài tòa, bộ quy tắc ứng xử trong hoạt động thu hồi nợ, quy trình/sổ tay phối hợp hỗ trợ xử lý tài khoản/thẻ liên quan đến giao dịch nghi ngờ gian lận giả mạo, lừa đảo, sổ tay hạ tầng kết nối thanh toán xuyên biên giới qua mã QR…

Đưa ra đề xuất tại hội nghị, đại diện ngân hàng SHB chia sẻ, hiện nay, quá trình số hóa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi các ngân hàng phải tăng cường quản lý rủi ro. Bởi dù đã có các nghị định, thông tư nhằm hỗ trợ giảm thiểu rủi ro, nhưng tội phạm vẫn không ngừng tìm ra những phương thức mới để lừa đảo.

"Bên cạnh đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tư pháp để tìm ra giải pháp thu hồi nợ hiệu quả, đồng thời sửa đổi các quy định pháp lý ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng" - đại diện SHB kiến nghị.

Đại diện ngân hàng BIDV kiến nghị năm 2025 cần tiếp tục triển khai các nội dung trọng tâm về: kinh nghiệm, lan toả về tài chính xanh, phát hành trái phiếu xanh; triển khai Basel III sửa đổi Thông tư 41; tăng cường an toàn giao dịch trên kênh số, bảo vệ người tiêu dùng; xây dựng dữ liệu dùng chung chia sẻ sự cố về gian lận để kịp thời phòng ngừa những hành vi giao dịch có ý đồ xấu; giải quyết khó khăn vướng mắc trong xử lý nợ xấu...

Nhiều dấu ấn năm 2024

Trước đó, năm 2024, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam kịp thời đưa ra những biện pháp thích ứng phù hợp, khắc phục khó khăn, tháo gỡ vướng mắc cho các hội viên nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng, từ đó, hỗ trợ doanh nghiệp, duy trì ổn định hoạt động, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Ngày 27/3, tại Hà Nội, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) tổ chức Hội nghị Thường niên lần thứ V, nhiệm kỳ VII.
Ông Phạm Toàn Vượng - Chủ tịch Hội đồng Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phát biểu tại hội nghị. Ảnh: VNBA.

Phát biểu tại hội nghị, ông Phạm Toàn Vượng - Chủ tịch Hội đồng Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, năm 2024, Hiệp hội tham gia đóng góp xây dựng 90 cơ chế chính sách, góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng.

Đồng thời, tăng cường và phát huy vai trò cầu nối giữa các tổ chức hội viên với các cơ quan quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên; chủ động và linh hoạt trong công tác đào tạo, tập huấn đội ngũ cán bộ nhân viên ngân hàng. Các mảng công tác khác như công tác hợp tác quốc tế, công tác triển khai thực hiện bộ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; công tác nội bộ... được quan tâm, chú trọng.

Đáng chú ý, trong năm 2024, Hiệp hội gửi hơn 30 văn bản đến các cơ quan có thẩm quyền như: Quốc hội, Tòa án Nhân dân tối cao, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính…, kiến nghị, đề xuất để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập nổi cộm của các tổ chức hội viên trong quá trình hoạt động.

"Trong quá trình tham gia tố tụng, tranh chấp các hợp đồng giữa các tổ chức tín dụng với khách hàng, Hiệp hội gửi kiến nghị đến các bộ, ngành liên quan đến bản án, tranh chấp đều được trả lời và phúc đáp một cách đầy đủ" - ông Nguyễn Quốc Hùng cho biết.

Công tác truyền thông góp phần đắc lực vào việc tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật, công tác đào tạo cũng đạt được nhiều kết quả tích cực./.

"Tình hình thế giới năm 2025 dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; kinh tế trong nước tiếp tục chịu tác động tiêu cực "kép” từ những yếu tố bất lợi bên ngoài và những hạn chế, bất cập bên trong. Thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen nhưng khó khăn, thách thức có thể nhiều hơn, đòi hỏi ngành ngân hàng nói chung và Hiệp hội ngân hàng nói riêng chủ động thích ứng, đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả hoạt động và đồng hành cùng các cơ quan quản lý trong việc thực hiện các chủ trương lớn về cải cách thể chế và hoàn thiện hệ thống pháp luật" - Chủ tịch Hội đồng Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam nhấn mạnh./.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80