HSBC: Lạm phát toàn phần sẽ sớm tăng mạnh

Hoàng Yến
Bộ phận Nghiên cứu Toàn cầu HSBC vừa có một báo cáo đánh giá tình hình lạm phát tại Việt Nam và các nước khác trong ASEAN. Trong đó điều chỉnh dự báo lạm phát của hầu hết các nền kinh tế ASEAN.
aa

Rủi ro lớn nhất từ giá thực phẩm và năng lượng

Trong vòng một năm qua, “mặt trận” lạm phát có vẻ yên ắng ở khu vực ASEAN so với các nơi khác trên thế giới.

Theo báo cáo, tới nay tình hình đã đổi khác, áp lực giá đã tăng lên đáng kể ở một số thị trường, đáng lưu ý là Thái Lan, Philippines và Singapore. Tác động ở mỗi nước một khác, cụ thể, áp lực lạm phát với Singapore, Thái Lan và Phillipines có phần nặng nề hơn trong khi ở Việt Nam, Malaysia và Indonesia thì lạm phát vẫn tương đối trong tầm kiểm soát.

Tuy nhiên, lạm phát toàn phần nhiều khả năng sẽ sớm tăng mạnh ở nhóm thứ hai, nhất là trong bối cảnh giá năng lượng tăng lên. Ở các nước khác, trong vài tháng tới, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cũng sẽ tăng lên.

Theo HSBC, rủi ro lớn nhất đối với bình ổn giá cả trong khu vực tới thời điểm này vẫn là giá năng lượng và thực phẩm trên thế giới tăng lên. Trợ cấp và kiểm soát giá tất nhiên giúp giảm nhẹ tác động đáng kể ở Indonesia và Malaysia.

Tuy nhiên, những động thái này lại ngày càng tốn kém, ngay cả với hai nước nêu trên nơi giá hàng hóa tăng cao góp phần tăng doanh thu tài khóa.

Vì vậy, sau một thời gian, chương trình trợ cấp và kiểm soát giá sẽ cần thu gọn lại và khoanh vùng cụ thể hơn – một bước quan trọng nhằm giải phóng thêm nguồn ngân sách cho mục đích khác ví dụ như đầu tư vào cơ sở hạ tầng và an sinh xã hội, cho dù cái giá phải trả có thể là lạm phát cao lên.

Trong khi đó, các ngân hàng trung ương sẽ cần hành động quyết liệt hơn nhằm “giải nén” áp lực giá. Chắc chắn, bản chất tác động không đồng đều giữa các nước trong khu vực. Ví dụ như ở Indonesia và Malaysia, giá hàng hóa tăng cao giống như một cơn sốc nhu cầu, thúc đẩy tổng nhu cầu và kéo theo thắt chặt tiền tệ cần thiết. Tuy nhiên, ngay cả những nơi giá năng lượng và thực phẩm tăng lên có vẻ giống như “sốc nguồn cung” cũng cần tăng lãi suất để giữ lạm phát trong mức kỳ vọng.

Và còn có một rủi ro là giá năng lượng và thực phẩm tăng cao “lây lan” sang chỉ số CPI cơ bản – một thách thức càng nghiêm trọng do phục hồi từ đại dịch, nhu cầu trong nước dồn nén nhiều khả năng khiến việc điều chỉnh giá trầm trọng hơn trong toàn nền kinh tế và thắt chặt thị trường việc làm.

Theo ước tính của HSBC, lạm phát cơ bản của Philippines, Indonesia và Malaysia đặc biệt dễ ảnh hưởng do lạm phát năng lượng và thực phẩm tăng, Thái Lan và Việt Nam thì đỡ hơn.

Vì vậy, chính sách thắt chặt sẽ diễn ra ở nhiều nơi. Thực tế, mặc dù những khó khăn do ngoại cảnh gây ra cho xuất khẩu sản xuất đã tăng thêm – từ nhu cầu từ Trung Quốc giảm sút đến chu kỳ điện tử chậm lại – rủi ro đối với bình ổn giá cả gần đây mới tăng lên, đặc biệt do giá thực phẩm tăng, vì vậy, HSBC đã điều chỉnh dự báo CPI năm 2022 cao lên đối với Thái Lan, Philippines, Singapore và Indonesia.

HSBC: Lạm phát toàn phần sẽ sớm tăng mạnh
Giá lương thực, thực phẩm tăng gây áp lực với chỉ số CPI

Việt Nam chắc chắn lấy lại mức tăng trưởng trước đại dịch

Với Việt Nam, HSBC nhận định lạm phát giá năng lượng đã kéo dài được một thời gian. Giá vận tải tăng cao kỷ lục, vượt qua lạm phát thực phẩm để trở thành động lực chính thúc đẩy lạm phát toàn phần của Việt Nam. Bất chấp giá năng lượng tăng lên, lạm phát thực phẩm ở mức vừa phải, vốn chiếm tỷ trọng lớn hơn trong rổ CPI, đã giúp kiểm soát mức tăng chung của lạm phát toàn phần tính tới thời điểm này. HSBC đã giảm nhẹ mức dự báo lạm phát năm 2022 với Việt Nam do giá thực phẩm trong nước ổn định nhiều khả năng sẽ giúp kiềm chế lạm phát toàn phần.

Điều may mắn là mặt hàng gạo – thực phẩm chính của các nước thuộc khối ASEAN – chỉ mới tăng nhẹ từ đầu năm 2022 và vẫn duy trì thấp hơn mức đỉnh của năm 2021.

Đây thực sự là tin tốt cho khu vực này, đặc biệt với Indonesia, Philippines và Malaysia là những nước nhập khẩu ròng gạo lớn. Mặc dù vậy, điều này cũng không đủ bù đắp cho những tác động trên diện rộng do giá tăng ở các mặt hàng thực phẩm khác, và với việc thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong rổ CPI ở nhiều nền kinh tế, đặc biệt như Philippines và Việt Nam, lạm phát toàn phần chắc chắn sẽ tăng lên nữa.

Trong bối cảnh lạm phát tăng cao, câu hỏi mấu chốt ở đây là các ngân hàng trung ương sẽ phản ứng như thế nào? Lạm phát là vấn đề cần quan tâm nhưng vẫn phụ thuộc phần nhiều vào triển vọng tăng trưởng.

Nói chung, ASEAN vẫn đang trên đà phục hồi kinh tế đầy hứa hẹn nhờ các nước dần gỡ bớt những biện pháp hạn chế phòng dịch. Nhu cầu nội địa cũng có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ, chỉ số phản ánh khả năng đi lại của người dân đã vượt mức trước đại dịch đặc biệt ở Indonesia và Philippines.

Sau khi xem xét cả hai vấn đề lạm phát và tăng trưởng, căn cứ vào đó, HSBC đã điều chỉnh dự báo lãi suất điều hành của các nước trong khu vực. Trước bối cảnh FED siết chặt chính sách thêm nhiều, áp lực đòi hỏi các ngân hàng trung ương ở châu Á phải hành động nhanh chóng đang tăng lên. Sắp tới trong tháng 6: Indonesia và Philippines có thể điều chỉnh tăng lãi suất còn Thái Lan vẫn đang “án binh bất động”…

Ở Việt Nam, theo HSBC, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã theo kịp tiến độ bình thường hóa chính sách tiền tệ. Nhờ xuất khẩu ấn tượng và tiêu dùng cá nhân phục hồi, Việt Nam chắc chắn lấy lại mức tăng trưởng như trước đại dịch. Trong khi lạm phát hiện tại vẫn ở dưới mục tiêu 4% của NHNN, HSBC dự báo tình trạng giá năng lượng cao còn kéo dài sẽ tiếp tục đẩy giá cả nói chung lên, nhiều khả năng sẽ có lúc vượt qua trần 4% của NHNN trong nửa sau của năm 2022 nhưng chỉ là tạm thời. Tình hình đó có thể sẽ khiến NHNN phải điều chỉnh lãi suất thêm 50 điểm cơ bản trong quý III/2022 trước khi tăng lãi suất ba lần mỗi lần 25 điểm cơ bản trong năm 2023.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, ngân hàng MB báo lãi trước thuế đạt 30.518,4 tỷ đồng, tăng 31,9% cùng kỳ, với động lực từ thu nhập lãi thuần. Đáng chú ý, thu nhập lãi và các khoản tương tự lần đầu vượt 100.000 tỷ đồng, cao hơn cả năm 2025, trong bối cảnh tổng tín dụng đạt hơn 1,31 triệu tỷ đồng, tăng 18,9% so với đầu năm.
ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

(TBTCO) - Liên tiếp ký kết hợp tác với 4 đối tác trong lĩnh vực bảo hiểm, tư vấn tài chính, công nghệ và Đại học Kinh tế Quốc dân, ABBank mở rộng liên kết nguồn lực, phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính đa dạng, đồng thời đầu tư đào tạo, nghiên cứu và tạo cơ hội nghề nghiệp cho nguồn nhân lực trẻ.
Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận tăng 24,2%, hệ sinh thái phục vụ hơn 34 triệu khách hàng; HDBank tiếp tục mở rộng nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính số và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/10, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.637 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Chỉ số DXY biến động hẹp trong tuần, song giữ đà tăng lên 101,96 điểm, giữa bối cảnh 5 ngân hàng trung ương lớn công bố quyết định lãi suất, trong đó Canada tăng lãi suất, 4 ngân hàng còn lại giữ nguyên.
Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng 2026, MSB lãi trước thuế đạt 5.439,8 tỷ đồng, tăng 14,3%, nhờ thu nhập lãi thuần tăng 21,7%, chi phí dự phòng giảm. Tổng tài sản ngân hàng tiến sát 440.000 tỷ đồng, để tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động, MSB đang triển khai kế hoạch chào bán cổ phiếu và lên kế hoạch mở rộng hệ sinh thái tài chính.
Giá vàng hôm nay ngày 31/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 31/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 145 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cùng mất từ 900.000 đến 1,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,600 137,600
Hà Nội - PNJ 133,600 137,600
Đà Nẵng - PNJ 133,600 137,600
Miền Tây - PNJ 133,600 137,600
Tây Nguyên - PNJ 133,600 137,600
Đông Nam Bộ - PNJ 133,600 137,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,600 13,900
Miếng SJC Nghệ An 13,600 13,900
Miếng SJC Thái Bình 13,600 13,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,400 13,800
Trang sức 99.9 13,080 13,680
Trang sức 99.99 13,090 13,690
Vàng 99.9 12,550
Vàng 99.99 12,700
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 136 13,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 136 13,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,318 1,358
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,318 1,359
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,298 1,348
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 126,465 133,465
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,146 10,126
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,023 91,823
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 72,586 82,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 68,946 78,746
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,567 56,367
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cập nhật: 01/11/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18468
CAD 17934 18209 18825
CHF 30632 31008 31646
CNY 0 3835 3931
EUR 28164 28379 29467
GBP 33752 34141 35078
HKD 0 3158 3361
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14212 14810
SGD 19642 19923 20507
THB 680 743 796
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/11/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30