Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/9:

Hút mạnh tiền qua thị trường mở, giá vàng thế giới tuột dốc không phanh

Chí Tín
(TBTCO) - Sự kiện đáng chú ý tuần qua là động thái của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc tiếp tục thực hiện hút mạnh tiền qua thị trường mở. Trong khi đó tại thị trường tài chính thế giới, giá vàng đã tuột dốc mạnh và thiết lập đáy mới.
aa

Ngân hàng Nhà nước hút mạnh tiền

Trong tuần qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực hiện liên tiếp 4 đợt phát hành tín phiếu. 1 đợt phát hành tổng giá trị 10 nghìn tỷ đồng, 3 đợt còn lại mỗi đợt 20 nghìn tỷ đồng, theo đó tổng cộng giá trị phát hành lên tới 70 nghìn tỷ đồng.

Kỳ hạn tín phiếu do NHNN phát hành các đợt gần đây đều là 28 ngày thông qua đấu thầu, với lãi suất trúng thầu ở mức trong khoảng từ 0,49 từ 0,7%.

Trước đó trong tuần từ 18 đến 22/9, NHNN đã thực hiện hút vào tổng giá trị 40 nghìn tỷ đồng thông qua phát hành tín phiếu với lãi suất suất trong khoảng từ 0,5 đến 0,65%.

Hút mạnh tiền qua thị trường mở, giá vàng thế giới tuột dốc không phanh
Ngân hàng đang rất dồi dào tiền nhưng vẫn khó cho vay. Ảnh: T.L
Lo ngại lãi suất của Mỹ có thể tăng, chứng khoán châu Á 'tuột dốc' Trong nước nghiên cứu sửa Thông tư 06, thế giới giá vàng chìm sâu

Đánh giá về động thái hút tiền của NHNN, ông Nguyễn Đắc Toại, chuyên viên tư vấn thuộc Công ty chứng khoán SSI cho biết, đây là quyết định quyết liệt và kịp thời để giảm thiểu đầu cơ tỷ giá trong hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên về dài hạn, để xử lý dứt điểm vấn đề của tỷ giá, NHNN có thể cần phải bán USD để can thiệp tỷ giá. Diễn biến thời gian tới cũng sẽ còn tiếp tục phụ thuộc dòng USD thực tế chảy vào từ thặng dư thương mại, kiều hối, FDI và một số khoản cam kết rót vốn lớn vừa qua.

Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến tín dụng

Hiện nay hệ thống tài chính đang trong trạng thái thanh khoản thị trường liên ngân hàng (thị trường 2) dư thừa rất nhiều nhưng tín dụng ra nền kinh tế (thị trường 1) lại rất hạn chế. Song song với động thái hút tiền thì các chuyên gia cho rằng, NHNN nên tiếp tục ban hành các chính sách giúp lãi suất thị trường 1 giảm và tín dụng khơi thông.

Thực tế, việc đẩy mạnh xúc tiến tín dụng vẫn tiếp tục được NHNN thực hiện không ngừng nghỉ và động thái mới nhất diễn ra trong tuần này là buổi tiếp xúc ngân hàng - doanh nghiệp tại Bắc Ninh.

Số liệu của NHNN cho biết, đến cuối tháng 31/8/2023, dư nợ tín dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đạt trên 154 nghìn tỷ đồng, tăng 5,8% so với cuối 2022 (cao hơn mức tăng toàn quốc: 5,56%).

Tiếp tục thực hiện các chuỗi sự kiện chuyển đổi số

Thời gian vừa qua, các sự kiện chuyển đổi số được các cơ quan liên quan trong ngành ngân hàng thực hiện với mật độ khá dày đặc. Sự kiện gần đây nhất là công bố hôm 29/9 của Sở Thông tin TP. Hồ Chí Minh và Thời báo Ngân hàng về Tuần lễ chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh với chủ đề: “Khai phá dữ liệu số, thành công chuyển đổi số”, dự kiến diễn ra chính thức tháng 10/2023.

Trong đó, tín dụng đối với ngành công nghiệp và xây dựng có mức tăng trưởng cao nhất tăng 8,87%, chiếm 36,58% tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn tỉnh, tiếp theo là ngành thương mại dịch vụ, tăng 4,63%, chiếm tỷ trọng cao nhất 60,41% tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn tỉnh. Tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên có sự sụt giảm, trong đó dư nợ phát triển nông nghiệp, nông thôn giảm 6,3%, doanh nghiệp nhỏ và vừa giảm 9,78%.

Tín dụng lĩnh vực bất động sản giảm 23,79%; trong đó tín dụng kinh doanh BĐS chiếm gần 53%, giảm 2,64%, dư nợ tín dụng BĐS với mục đích tiêu dùng, tự sử dụng giảm mạnh 38,59%. Một số dự án giao thông trọng điểm trên địa bàn tỉnh cũng được các TCTD tập trung cung ứng tín dụng với tổng hạn mức cấp tín dụng là 3.193 tỷ đồng.

Ông Phạm Thanh Hà, Phó Thống đốc NHNN cho biết, với tinh thần đồng hành, chia sẻ cùng người dân, doanh nghiệp, ngành ngân hàng sẵn sàng triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

Hút mạnh tiền qua thị trường mở, giá vàng thế giới tuột dốc không phanh
Giá vàng thế giới đang chịu nhiều áp lực. Ảnh: T.L

Giá vàng lao dốc

Diễn biến đáng chú tuần qua với giá vàng là sự tuột dốc mạnh của giá vàng thế giới sau một giai đoạn giằng co trước đó. Giá vàng trong nước cũng có ít nhiều bị ảnh hưởng bởi giá vàng thế giới, nhưng sự ảnh hưởng không quá lớn. Giá vàng miếng trong nước vẫn có những phiên lội ngược dòng tăng giá ngay trong những thời điểm giá vàng thế giới giảm mạnh.

Phiên “đen tối” nhất của giá vàng thế giới diễn ra hôm 28/8, khi giá vàng tuột dốc tới 28 USD so với hôm trước xuống chỉ con 1.875 USD/ounce, chính thức phá vỡ ngưỡng kháng cự 1.900 USD/ounce. Chưa dừng lại ở đó, giá vàng tiếp tục giảm vào ngày tiếp theo xuống còn 1.866 USD/ounce. Theo đó so với trước đó 1 tuần, giá vàng hôm 29/9 đã giảm tới 61 USD/ounce.

Tuy đồng USD dừng đà tăng giá nhưng giá vàng thế giới vẫn giảm sốc vì giá trị của đồng tiền này còn đứng ở mức cao, chỉ số USD Index trụ vững tại 106,6 điểm. Ông Jamie Dimon - Giám đốc điều hành của JP Morgan lưu ý thị trường cần chuẩn bị cho kịch bản lãi suất vẫn tăng trong những tháng tới. Bởi lẽ, lãi suất cơ bản tại Mỹ hiện đang ở mức 5,25% -5,5%. Trường hợp Mỹ tiếp tục tăng lãi suất, đồng USD sẽ còn tăng giá trong thời gian tới, tạo sức ép lên giá vàng.

Vàng trong nước ít bị ảnh hưởng

Mặc dù giá vàng thế giới rơi vào thời kỳ tuột dốc mạnh, nhưng bức tranh của giá vàng trong nước cũng không quá tăm tối, đặc biệt vàng miếng vẫn có một số thời điểm tăng giá. Sáng ngày 29/9, vàng miếng SJC 9999 niêm yết ở mức 68,15 triệu đồng/lượng mua vào và 68,85 triệu đồng/lượng bán ra, thấp hơn khoảng 300 nghìn đồng mỗi lượng so với 1 tuần trước.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng vượt mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi dưới mốc 4.300 USD/ounce trước áp lực từ đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ, trong khi giá vàng trong nước tiếp tục giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Hà Nội - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Đà Nẵng - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Miền Tây - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Tây Nguyên - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,190 ▼170K 14,490 ▼170K
Miếng SJC Nghệ An 14,190 ▼170K 14,490 ▼170K
Miếng SJC Thái Bình 14,190 ▼170K 14,490 ▼170K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,140 ▼170K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,140 ▼170K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,140 ▼170K 14,540 ▼120K
NL 99.99 13,550 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450 ▼50K
Trang sức 99.9 13,850 ▼120K 14,450 ▼120K
Trang sức 99.99 13,860 ▼120K 14,460 ▼120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,419 ▼17K 14,492 ▼170K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,419 ▼17K 14,493 ▼170K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,414 ▼17K 1,444 ▼17K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,414 ▼17K 1,445 ▼17K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 ▼17K 1,434 ▼17K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 ▼123165K 14,198 ▼129465K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 ▼1275K 107,711 ▼1275K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 ▼1156K 97,672 ▼1156K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 ▲69946K 87,633 ▲78766K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 ▼991K 83,761 ▼991K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 ▼709K 59,954 ▼709K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Cập nhật: 22/09/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17973 18248 18827
CAD 18005 18280 18899
CHF 31130 31508 32152
CNY 0 3840 3937
EUR 29195 29415 30495
GBP 33957 34346 35297
HKD 0 3185 3388
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14614 15204
SGD 19871 20153 20724
THB 702 765 818
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,237 29,260 30,648
JPY 160.54 160.83 170.54
GBP 34,167 34,260 35,442
AUD 18,176 18,242 18,933
CAD 18,202 18,260 18,932
CHF 31,283 31,380 32,308
SGD 19,972 20,034 20,818
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,250 3,260 3,397
KRW 17.65 18.41 20.04
THB 745.87 755.08 808.23
NZD 14,606 14,742 15,180
SEK - 2,598 2,691
DKK - 3,921 4,060
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,965.33 - 6,734.76
TWD 740.61 - 897.28
SAR - 6,808.55 7,171.81
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,289 29,407 30,608
GBP 34,178 34,315 35,340
HKD 3,248 3,261 3,379
CHF 31,171 31,296 32,242
JPY 161.37 162.02 169.98
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,045 20,125 20,715
THB 763 766 804
CAD 18,208 18,281 18,872
NZD 14,603 15,145
KRW 18.30 20.27
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25832 25832 26192
AUD 18156 18256 19181
CAD 18188 18288 19302
CHF 31370 31400 32974
CNY 3822.6 3847.6 3983.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29369 29399 31121
GBP 34253 34303 36072
HKD 0 3305 0
JPY 162.15 162.65 173.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14739 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20021 20151 20876
THB 0 729 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14190000 14190000 14490000
SBJ 13000000 13000000 14490000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,723 25,843 26,210
USD20 25,693 25,843 26,210
USD1 25,673 25,843 26,210
AUD 18,211 18,311 19,418
EUR 29,166 29,266 30,925
CAD 18,140 18,240 19,547
SGD 20,088 20,238 20,792
JPY 162.03 163.53 169.08
GBP 34,182 34,332 35,394
XAU 14,308,000 0 14,612,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/09/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30