Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18.8:

Trong nước nghiên cứu sửa Thông tư 06, thế giới giá vàng chìm sâu

Chí Tín
(TBTCO) - Còn vài ngày nữa là đến thời điểm chính thức có hiệu lực của Thông tư 06/2023/TT-NHNN, nhưng trong tuần qua, Thủ tướng đã có văn bản chỉ đạo nghiên cứu sửa đổi bổ sung Thông tư này. Tại thị trường quốc tế, giá vàng sau thời kỳ đi ngang đã xác định xu hướng giảm mạnh và xuyên thủng ngưỡng hỗ trợ 1.900 USD/ounce.
aa

Yêu cầu nghiên cứu sửa Thông tư 06

Trong tuần qua, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 746/TTg-KTTH về các giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp. Nội dung văn bản cho biết, với tinh thần cầu thị, lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp, người dân, bảo đảm chính sách khi ban hành phải đúng, trúng, không cản trợ sự phát triển và phù hợp, kịp thời xử lý vướng mắc; giao Phó Thủ tướng Lê Minh Khái chủ trì họp với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các bộ ngành nghiên cứu chỉ đạo về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 06/2023/TT-NHNN.

Trong nước nghiên cứu sửa Thông tư 06, thế giới giá vàng chìm sâu
Các doanh nghiệp bất động sản lo lắng nội dung Thông tư 06 sẽ chặn dòng vốn đối với thị trường bất động sản. Ảnh: T.L
Tiếp tục khơi thông vốn cho doanh nghiệp, FED tăng lãi suất Tỷ giá nhích tăng nhẹ, giá vàng “thăm dò” các tín hiệu mới

Thông tư số 06 là văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2023. NHNN cho biết, Thông tư 06 đã có nhiều nội dung nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần cung ứng thêm vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phục hồi phát triển kinh tế.

Một số trường hợp ngân hàng không được cho vay theo Thông tư 06

Thông tư 06 có nội dung quy định một số trường hợp TCTD không được cho vay. Đó là các trường hợp không được cho vay để gửi tiền, không được cho vay để thanh toán tiền góp vốn hoặc mua cổ phần công ty chưa niêm yết, không được cho vay góp vốn vào các dự án không đủ điều kiện kinh doanh, không được cho vay để bù đắp tài chính.

Tuy nhiên, thời gian qua một nội dung đang được giới bất động sản phản ứng mạnh mẽ là quy định ngân hàng không được cho vay để thanh toán tiền góp vốn theo hợp đồng góp vốn, hợp đồng hợp tác đầu tư hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh để thực hiện dự án đầu tư không đủ điều kiện đưa vào kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Trong văn bản kiến nghị gửi Thủ tướng và NHNN, ông Lê Hoàng Châu - Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.Hồ Chí Minh (HoREA) cho rằng, đối chiếu với các quy định của Bộ Luật Dân sự 2015 và Luật Đầu tư 2020 thì việc cá nhân, pháp nhân “góp vốn theo hợp đồng góp vốn, hợp đồng hợp tác đầu tư hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh” tại mọi giai đoạn thực hiện dự án đều hợp pháp. Do đó, Hiệp hội đề nghị NHNN xem xét cho phép TCTD được cho vay “để góp vốn theo hợp đồng góp vốn, hợp đồng hợp tác đầu tư hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh” và phải có tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về tín dụng.

Bàn giải pháp tăng hiệu quả tín dụng chính sách

Tuần qua, Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Tín dụng chính sách xã hội với vấn đề thực hiện và bảo đảm an sinh xã hội” đã được Ngân hàng Chính sách xã hội và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức tại Hà Nội. Tại hội thảo, nhiều tham luận chuyên sâu đã được đưa ra để đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn nữa hiệu quả của tín dụng chính sách.

Bà Hà Thị Nga - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cho biết, một trong những giải pháp nên quan tâm tới là nghiên cứu, xây dựng cơ chế phát triển các chương trình chính sách ưu tiên cho các nhóm phụ nữ đặc thù (lao động nữ mất việc làm, phụ nữ khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh, hợp tác xã do phụ nữ tham gia quản lý), đặc biệt vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số.

Trong khi đó, ông Nguyễn Lam Thành - Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội cho biết, thời gian tới cần nghiên cứu xây dựng đề án về lồng ghép việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, các chính sách an sinh xã hội khác.

Tỷ giá tham khảo vượt mốc 25.000 đồng/USD

Tuần qua ghi nhận việc tỷ giá USD tham khảo bán ra tại Sở giao dịch NHNN vượt qua mốc 25.000 đồng/USD. Theo đó, hôm 15/8, Sở giao dịch đã nâng tỷ giá tham khảo bán ra lên mức 25.025 đồng/USD và tiếp tục duy trì tỷ giá bán ra trên 25.000 đồng/USD đến hết tuần.

Mặc dù vậy, tỷ giá niêm yết tại ngân hàng thương mại cũng không có thấy có những biến động tăng quá mạnh. Tại Vietcombank, tỷ giá có động thái điều chỉnh tăng vào hôm thứ ba, với các mức mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra lần lượt là 23.770/23.800/14.140 đồng/USD. Tuy nhiên, diễn biến tỷ giá tại ngân hàng này được điều chỉnh giảm dần trong các phiên sau đó, cuối tuần ở mức 23.600/23.630/23.970 đồng/USD, chỉ cao hơn khoảng 60 đồng mỗi Đô la so với trước đó 1 tuần.

Tỷ giá trung tâm trong 1 tuần qua được điều chỉnh tăng chậm dần đều qua từng phiên, nhưng giảm vào phiên cuối cùng trong tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 23.946 đồng/USD, cao hơn 109 đồng mỗi Đô la so với 1 tuần trước đó.

Giá vàng thế giới giảm sâu

Tuần qua ghi nhận trạng thái giảm mạnh của giá vàng thế giới sau một giai đoạn giằng co đi ngang và theo đó đã chính thức phá vỡ ngưỡng hỗ trợ 1.900 USD/ounce.

Trong nước nghiên cứu sửa Thông tư 06, thế giới giá vàng chìm sâu
Giá vàng thế giới đã giảm xuống mức thấp nhất trong 5 tháng qua. Ảnh: T.L

Giá vàng thế giới chiều ngày 18/8 ghi nhận ở mức khoảng 1.893 USD/ounce, giảm khoảng 14 USD/ounce so với 1 tuần trước. Hiện nay, giá vàng thế giới đang giao dịch ở mức thấp nhất trong vòng 5 tháng khi và yếu tố bất lợi cho giá vàng là lợi suất trái phiếu tiếp tục tăng sau biên bản cuộc họp chính sách tiền tệ tháng 7 của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) được công bố. Biên bản cuộc họp nhắc nhở các nhà giao dịch và nhà đầu tư rằng FED vẫn cam kết với nỗ lực giảm lạm phát, với động thái tăng lãi suất sẽ còn diễn ra.

Sự sụt giảm mạnh của giá vàng thế giới cũng không ảnh hưởng quá lớn đến giá vàng trong nước. Ngày 18/8, giá vàng SJC 9999 vẫn ở mức 67,05 triệu đồng mỗi lượng mua vào và 67,65 triệu đồng mỗi lượng bán ra, cao hơn khoảng 200 nghìn đồng mỗi lượng so với trước đó một tuần.

Ý kiến của HoREA về kiểm soát rủi ro nếu vẫn cho vay góp vốn dự án chưa đủ điều kiện kinh doanh

HoREA cho rằng, để kiểm soát rủi ro thì NHNN có thể quy định TCTD có trách nhiệm quy định cụ thể việc cho vay theo tình trạng pháp lý của từng dự án. Ví dụ Dự án A đã có “quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư” thì TCTD có thể cho vay với tỷ lệ không quá 30% tổng mức đầu tư, hoặc Dự án B đã có “Giấy phép xây dựng” thì TCTD có thể cho vay với tỷ lệ không quá 50% tổng mức đầu tư…

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 60 USD/ounce so với sáng qua, lùi về sát ngưỡng 4.000 USD/ounce. Cùng diễn biến này, giá vàng trong nước cũng tiếp tục điều chỉnh giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 28/6: Giá vàng trong nước tăng tới 1,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 28/6: Giá vàng trong nước tăng tới 1,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với mức điều chỉnh phổ biến 1,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng gần 40 USD/ounce lên mức 4.072 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp.
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 26/6: Giá vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 26/6: Giá vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên trên mốc 4.000 USD/ounce,trong khi giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước tiếp tục điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Giá vàng hôm nay ngày 25/6: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/6: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce sau khi giảm hơn 100 USD/ounce so với phiên trước, kéo chênh lệch với giá vàng trong nước lên 20 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 36 USD/ounce so với phiên trước, giao dịch quanh mức 4.192 USD/ounce. Trong nước, ghi nhận sáng ngày 23/6, giá vàng miếng và vàng nhẫn lại quay đầu giảm nhẹ ở nhiều doanh nghiệp vàng lớn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,150 13,350
Nguyên Liệu 99.9 13,100 13,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 14,100
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 14,080
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,400 ▼600K 146,400 ▼600K
Hà Nội - PNJ 143,400 ▼600K 146,400 ▼600K
Đà Nẵng - PNJ 143,400 ▼600K 146,400 ▼600K
Miền Tây - PNJ 143,400 ▼600K 146,400 ▼600K
Tây Nguyên - PNJ 143,400 ▼600K 146,400 ▼600K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,400 ▼600K 146,400 ▼600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17601 17874 18458
CAD 17970 18245 18865
CHF 31852 32233 32890
CNY 0 3833 3927
EUR 29372 29592 30676
GBP 34022 34412 35352
HKD 0 3223 3426
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14599 15189
SGD 19773 20054 20626
THB 705 768 821
USD (1,2) 26041 0 0
USD (5,10,20) 26082 0 0
USD (50,100) 26111 26125 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,495 29,519 30,903
JPY 157.28 157.56 166.96
GBP 34,202 34,295 35,459
AUD 17,810 17,874 18,532
CAD 18,155 18,213 18,870
CHF 32,110 32,210 33,124
SGD 19,890 19,952 20,716
CNY - 3,803 3,945
HKD 3,287 3,297 3,432
KRW 15.56 16.23 17.64
THB 752.88 762.18 814.84
NZD 14,583 14,718 15,141
SEK - 2,660 2,752
DKK - 3,946 4,082
NOK - 2,604 2,695
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,021.97 - 6,792.46
TWD 745.87 - 902.82
SAR - 6,882.79 7,243.76
KWD - 83,142 88,388
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26466
AUD 17801 17901 18832
CAD 18158 18258 19270
CHF 32117 32147 33721
CNY 3816.6 3841.6 3977
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29560 29590 31315
GBP 34340 34390 36148
HKD 0 3355 0
JPY 158.18 158.68 169.19
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14708 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19932 20062 20785
THB 0 734.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14300000 14300000 14800000
SBJ 13000000 13000000 14800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,136 26,186 26,466
USD20 26,136 26,186 26,466
USD1 23,946 26,186 26,466
AUD 17,841 17,941 19,045
EUR 29,699 29,699 31,108
CAD 18,095 18,195 19,503
SGD 20,004 20,154 20,717
JPY 158.63 160.13 164.69
GBP 34,219 34,569 35,441
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,727 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80