Thị trường tiền tệ tuần 31.7- 4.8:

Tỷ giá nhích tăng nhẹ, giá vàng “thăm dò” các tín hiệu mới

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua ghi nhận một số động thái từ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc điều hành các giải pháp khơi thông vốn hỗ trợ nền kinh tế. Tỷ giá có diễn biến tăng, nhưng mức độ vừa phải, trong khi giá vàng vẫn tiếp tục dõi theo các diễn biến mới của thị trường tài chính quốc tế.
aa

Tiếp tục tìm các giải pháp tín dụng cho bất động sản

Tại Hội nghị trực tuyến diễn ra tuần qua đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ và đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho thị trường bất động sản, Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục rà soát việc cho vay tín dụng đối với các doanh nghiệp bất động sản.

Ngành Ngân hàng cần có giải pháp phù hợp, hiệu quả để doanh nghiệp, dự án bất động sản và người mua nhà tiếp cận được nguồn vốn tín dụng thuận lợi hơn. Tuy nhiên, Thủ tướng cũng yêu cầu việc vừa tạo thuận lợi, hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng phải vừa kiểm soát được rủi ro, góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển thị trường bất động sản an toàn, lành mạnh, hiệu quả, bền vững, nhất là xem xét rất cụ thể để cho vay với các dự án sắp hoàn thành.

Tỷ giá nhích tăng nhẹ, giá vàng “thăm dò” các tín hiệu mới
Nhiều giải pháp tiếp tục đưa ra để khơi thông dòng vốn hỗ trợ nền kinh tế. Ảnh: T.L
Lãi suất kỳ vọng giảm, ngân hàng hé lộ kết quả kinh doanh, vàng tăng sức hút Tiếp tục khơi thông vốn cho doanh nghiệp, FED tăng lãi suất

Với quan điểm này, NHNN được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình tín dụng khoảng 120.000 tỷ đồng cho vay ưu đãi phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo xây dựng lại chung cư.

Tiếp tục kỳ vọng giảm lãi suất và đơn giản thủ tục cho vay

Các ngân hàng thương mại được đặt ra yêu cầu tiếp tục chia sẻ với doanh nghiệp, người dân, tạo điều kiện hạ lãi suất cho vay, đơn giản hoá các thủ tục hành chính cho vay; phát huy cơ sở dữ liệu dân cư trong quản lý, cho vay tín dụng.

Về phía NHNN, Phó Thống đốc NHNN kiến nghị, đề xuất UBND các tỉnh, thành phố khẩn trương công bố danh mục các dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo, xây dựng lại chung cư. Trong đó, các dự án được công bố phải đảm bảo đúng theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng tại Công văn số 1551/BXD-QLN cả về nội dung và hình thức công bố, tránh tình trạng như thời gian qua công bố dự án rất nhiều nhưng tỷ lệ giải ngân lại chưa được bao nhiêu.

“Lên dây cót” cho việc chuẩn bị thực hiện thông tư mới về cho vay

Trong tuần qua, NHNN đã tập huấn triển khai Thông tư số 06/2023/TT-NHNN của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Dự kiến Thông tư 06 sẽ có hiệu lực từ 1/9/2023, trong đó một số nội dung đáng quan tâm là: Điều kiện vay vốn; các trường hợp không được cho vay (để gửi tiền; thanh toán tiền góp vốn, mua, nhận chuyển nhượng phần vốn góp; bù đắp tài chính…); các quy định về giải ngân vốn vay; quy định xác định lại hạn mức tín dụng hàng năm cho khách hàng…

Các doanh nghiệp phải khắc phục các vấn đề khó khăn nội tại

Theo lãnh đạo NHNN, các doanh nghiệp, các tập đoàn bất động sản cũng phải khẩn trương cơ cấu lại sản phẩm, nguồn hàng, cơ cấu các nguồn lực, vấn đề vốn, vấn đề thị trường, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay và cũng phải chia sẻ với những khó khăn của các lĩnh vực khác trong nền kinh tế, bởi không chỉ riêng bất động sản khó khăn mà các lĩnh vực khác cũng rất khó khăn.

NHNN cho biết, thông tư mới này có tác động lớn đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng cũng như với vai trò quản lý hoạt động tiền tệ và tín dụng của NHNN. Theo đó, Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà yêu cầu các tổ chức tín dụng cần quán triệt nội dung thông tư này để hoàn thiện quy trình nội bộ theo quy định mới, thực hiện hướng dẫn nghiệp vụ trong nội bộ ngân hàng cho phù hợp, đúng quy định của pháp luật, đảm bảo hoạt động cho vay được thông suốt và thuận lợi.

Tỷ giá nhúc nhích tăng

Tỷ giá có tín hiệu nhúc nhích tăng trong một số ngày cuối tuần qua. Cụ thể, tỷ giá trung tâm mở đầu tuần mới ở mức 23.758 đồng/USD, tăng 14 đồng mỗi Đô la so với cuối tuần trước. Sau một ngày giữ nhịp ổn định, tỷ giá trung tâm tiếp tục leo dốc lên 23.773 đồng/USD vào hôm thứ tư và leo lên mức 23.803 đồng/USD trước khi kết thúc tuần ở mức 23.825 đồng/USD. Tính chung cả tuần, tỷ giá trung tâm vào hôm thứ sáu cuối tuần đã tăng 67 đồng mỗi USD so với trước đó 1 tuần.

Tỷ giá nhích tăng nhẹ, giá vàng “thăm dò” các tín hiệu mới
Giá vàng luôn chịu ảnh hưởng từ lãi suất. Ảnh: T.L

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá niêm yết tại Vietcombank hôm thứ hai đầu tuần ghi nhận ở mức 23.485/23.515/23.855 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra) giảm nhẹ khoảng 5 đồng mỗi Đô la so với hôm thứ sáu tuần trước. Tuy nhiên, tỷ giá tại Vietcombank bước vào xu hướng tăng liên tục vào các ngày sau đó, cụ thể tăng 5 đồng mỗi Đô la vào hôm thứ ba, tăng 35 đồng mỗi Đô la vào hôm thứ tư và tăng tiếp 25 đồng mỗi Đô la vào hôm thứ năm. Vào thứ sáu cuối tuần, tỷ giá USD niêm yết tại Vietcombank là 23.530/23.560/23.900 đồng/USD, tuy giảm nhẹ so với hôm thứ năm nhưng đã ở mặt bằng cao hơn khoảng 40 đồng mỗi Đô la so với trước đó 1 tuần.

Vàng tiếp tục chịu tác động từ các động thái lãi suất

Thị trường vàng tiếp tục chịu nhiều ảnh hưởng từ hành động về chính sách tiền tệ của Mỹ và các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới.

Tại thời điểm chiều ngày 4/8 theo giờ Việt Nam, giá vàng thế giới giao dịch ở mức 1.933 USD/ounce, thấp hơn khoảng 17 USD mỗi ounce so với trước đó 1 tuần. Tại thị trường trong nước, giá vàng miếng SJC 9999 ghi nhận ở mức 66,6 triệu đồng mỗi lượng mua vào và 67,2 triệu đồng mỗi lượng bán ra, thấp hơn khoảng 50 nghìn đồng mỗi lượng so với chiều thứ sáu tuần trước.

Hiện tại, các thông tin về chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới vẫn là yếu tố trọng yếu nhất được các nhà đầu tư vàng quan tâm. Về động thái của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), hiện có khá nhiều phán đoán khác nhau về việc FED có tiếp tục tăng lãi suất trong giai đoạn từ nay đến cuối năm hay không. Trong khi đó, động thái đáng quan tâm nhất diễn ra trong tuần qua là việc Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) đã nâng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm lên 5,25%, đánh dấu đợt tăng lãi suất thứ 14 liên tiếp mà ngân hàng này thực hiện./.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
Giá vàng hôm nay ngày 8/5: Giá vàng thế giới và trong nước trái chiều nhau

Giá vàng hôm nay ngày 8/5: Giá vàng thế giới và trong nước trái chiều nhau

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng ngày 8/5 đảo chiều giảm xuống quanh vùng 4.688 USD/ounce, thấp hơn khoảng 17,9 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.
Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng mạnh lên 4.696 USD/ounce - mức cao nhất trong hơn một tuần. Bên cạnh đó, giá vàng trong nước cũng đồng loạt điều chỉnh tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 5/5: Giá vàng giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/5: Giá vàng giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 5/5 đồng loạt giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục suy yếu, khiến chênh lệch giữa hai thị trường vẫn duy trì trên 20 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng nhẫn và vàng miếng sáng ngày 4/5 tăng từ 500.000 - 600.000 đồng/lượng, đưa mặt bằng giá giao dịch lên ngưỡng 163 - 166,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/5: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 163 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 3/5: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 163 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 3/5, giá vàng trong nước duy trì ổn định tại nhiều doanh nghiệp lớn, phổ biến quanh ngưỡng 163 - 166 triệu đồng/lượng ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,220 16,520
Kim TT/AVPL 16,220 16,520
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,220 16,520
Nguyên Liệu 99.99 15,240 15,440
Nguyên Liệu 99.9 15,190 15,390
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,020 16,420
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,970 16,370
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,900 16,350
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,200 165,200
Hà Nội - PNJ 162,200 165,200
Đà Nẵng - PNJ 162,200 165,200
Miền Tây - PNJ 162,200 165,200
Tây Nguyên - PNJ 162,200 165,200
Đông Nam Bộ - PNJ 162,200 165,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,220 16,520
Miếng SJC Nghệ An 16,220 16,520
Miếng SJC Thái Bình 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,220 16,520
NL 99.90 15,070
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,120
Trang sức 99.9 15,710 16,410
Trang sức 99.99 15,720 16,420
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,622 16,522
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,622 16,523
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,617 1,647
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,617 1,648
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Cập nhật: 12/05/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18508 18785 19360
CAD 18720 18998 19613
CHF 33135 33521 34161
CNY 0 3832 3924
EUR 30334 30608 31632
GBP 34984 35378 36308
HKD 0 3231 3433
JPY 160 164 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15332 15919
SGD 20183 20467 20990
THB 727 790 843
USD (1,2) 26057 0 0
USD (5,10,20) 26098 0 0
USD (50,100) 26127 26146 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,507 30,531 31,827
JPY 163.47 163.76 172.76
GBP 35,220 35,315 36,352
AUD 18,751 18,819 19,433
CAD 18,933 18,994 19,595
CHF 33,489 33,593 34,402
SGD 20,354 20,417 21,118
CNY - 3,809 3,934
HKD 3,303 3,313 3,434
KRW 16.52 17.23 18.65
THB 775.61 785.19 835.94
NZD 15,351 15,494 15,880
SEK - 2,806 2,891
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,822 2,907
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,278.17 - 7,052.17
TWD 758.72 - 914.54
SAR - 6,914.01 7,245.8
KWD - 83,853 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,373
EUR 30,412 30,534 31,718
GBP 35,165 35,306 36,318
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,244 33,378 34,322
JPY 163.72 164.38 171.86
AUD 18,691 18,766 19,358
SGD 20,403 20,485 21,073
THB 794 797 832
CAD 18,884 18,960 19,535
NZD 15,424 15,960
KRW 17.16 18.86
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26373
AUD 18703 18803 19726
CAD 18907 19007 20021
CHF 33405 33435 35014
CNY 3813.5 3838.5 3973.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30531 30561 32283
GBP 35303 35353 37114
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15452 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20351 20481 21214
THB 0 756.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16220000 16220000 16520000
SBJ 14000000 14000000 16520000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,130 26,180 26,373
USD20 26,130 26,180 26,373
USD1 26,130 26,180 26,373
AUD 18,723 18,823 19,950
EUR 30,647 30,647 32,090
CAD 18,815 18,915 20,243
SGD 20,428 20,578 21,490
JPY 164.57 166.07 170.77
GBP 35,157 35,507 36,656
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80