Thị trường tiền tệ tuần 17-21/7:

Lãi suất kỳ vọng giảm, ngân hàng hé lộ kết quả kinh doanh, vàng tăng sức hút

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua, những thông điệp mới tiếp tục mở ra kỳ vọng mặt bằng lãi suất sẽ còn tiếp tục giảm trong thời gian tới. Thị trường trong nước cũng ghi nhận từ nay đến cuối tháng 7 là thời điểm nhiều ngân hàng dần công bố thông tin kinh doanh nửa đầu năm. Trong khi đó, giá vàng bước vào giai đoạn thuận lợi.
aa

Kỳ vọng lãi suất tiếp tục giảm

Những thông điệp từ phía Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục mở ra kỳ vọng về chu kỳ mới của lãi suất có thể sẽ còn tiếp tục giảm. Đáng chú ý, thông điệp từ lãnh đạo NHNN đã đưa ra dự báo với tác động của độ trễ chính sách, dự kiến mặt bằng lãi suất cho vay đối với nền kinh tế sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới.

Trong khi đó, tín dụng tăng chậm cũng cho thấy các ngân hàng sẽ phải đẩy mạnh cho vay trong nửa cuối năm 2023 và đây cũng là yếu tố thuận lợi để lãi suất có cơ hội giảm thêm.

Lãi suất liên ngân hàng vẫn đang ở mặt bằng thấp

Diễn biến lãi suất thực tế trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng đang trên một mặt bằng khá thấp. Hiện tại, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng chỉ khoảng 0,34%; với các kỳ hạn khác, lãi suất 1 tuần là 0,5%, kỳ hạn 2 tuần là 0,72%; 1 tháng là 1,68%...

Theo NHNN, đến ngày 30/6/2023, tín dụng nền kinh tế đạt trên 12,49 triệu tỷ đồng, tăng 4,73% so với cuối năm 2022. Trong đó, cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vốn cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP cả nước. Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN cho biết, NHNN cũng đang rà soát thủ tục, quy trình cho vay và các loại phí, lệ phí tổ chức tín dụng đang áp dụng để xem xét, chỉ đạo cắt giảm các loại phí, lệ phí không cần thiết.

Mở rộng thêm các gói tín dụng ưu đãi

Tuần qua NHNN cũng đã công bố thêm một gói tín dụng ưu đãi nữa là gói tín dụng cho lĩnh vực lâm, thủy sản.

Lãi suất kỳ vọng giảm, ngân hàng hé lộ kết quả kinh doanh, vàng tăng sức hút
Chương trình tín dụng lâm, thủy sản có quy mô 15 nghìn tỷ đồng. Ảnh: T.L
Nối dài các chính sách hỗ trợ, tiếp sức cho kinh tế đất nước phục hồi, đi lên Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, giá vàng thế giới tiếp tục giảm

Chương trình tín dụng này có quy mô tín dụng khoảng 15.000 tỷ đồng (cao hơn dự kiến đặt ra ở gói 10.000 tỷ đồng). Đối tượng vay vốn là những khách hàng có dự án/phương án phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh lĩnh vực lâm sản, thủy sản. Lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam thấp hơn tối thiểu từ 1%-2%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn (ngắn hạn, trung, dài hạn) của chính ngân hàng cho vay áp dụng trong từng thời kỳ. Thời gian triển khai đến hết ngày 30/6/2024.

Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại theo thẩm quyền thực hiện miễn, giảm các loại phí dịch vụ đối với khách hàng tham gia Chương trình này, phù hợp với quy định pháp luật và quy mô hoạt động của ngân hàng.

Như vậy, các ngân hàng thời điểm hiện tại đang triển khai đồng thời nhiều gói tín dụng ưu đãi khác nhau. Ngoài chương trình tín dụng lâm, thủy sản kể trên, các ngân hàng cũng còn tiếp tục thực hiện gói tín dụng cho vay nhà ở xã hội quy mô 120 nghìn tỷ đồng với lãi suất ưu đãi 1,5 - 2%; gói tín dụng ưu đãi cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi Covid-19 quy mô 40 nghìn tỷ đồng với lãi suất ưu đãi 2%.

Lác đác hé lộ tình hình kinh doanh ngân hàng

Tuần qua cũng là thời điểm ghi nhận một số ngân hàng đã dần công bố tình hình kinh doanh quý II và nửa đầu năm 2023.

Ngân hàng TP.Bank công bố tổng huy động vốn giữa năm 2023 đã đạt trên 302 nghìn tỷ đồng, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước; tổng tài sản đạt gần 343,5 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5% so với cùng kỳ. Công ty chứng khoán HSC dự báo ngân hàng này có thể sẽ có những bước phục hồi đáng kể trong năm tài chính 2024 - 2025. Tỷ suất lợi nhuận trung bình năm (CAGR) 2024 - 2025 được dự báo đạt khoảng 20,5%, ROE sẽ duy trì ở mức 20-21% trong giai đoạn 2023 - 2025. Từ năm tới, các mảng kinh doanh chính của TP.Bank sẽ phục hồi. Trong đó, HSC cho rằng giai đoạn 2024 - 2025, TP.Bank có thể sẽ có sự cải thiện về thu nhập và chất lượng tài sản.

Trong khi đó, một ngân hàng khác là Sacombank cũng cho biết, tính đến ngày 30/6/2023, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng đạt 4.755 tỷ đồng, tăng 63,5% so cùng kỳ và đạt 50,1% kế hoạch Đại hội đồng cổ đông giao. Tổng tài sản của Sacombank tại thời điểm giữa năm đạt hơn 622 ngàn tỷ đồng, tăng hơn 5% so đầu năm, trong đó tài sản có sinh lời tăng 7,5%.

Dự kiến, mùa công bố kết quả kinh doanh nửa đầu năm của các ngân hàng sẽ tiếp tục tăng nhiệt trong những ngày cuối tháng 7 tới.

Sức hút tăng trở lại với vàng

Giá vàng tuần qua ghi nhận một số phiên phục hồi tốt và nguyên nhân chính nhờ thông tin về tình hình lạm phát tại Mỹ đã được kiểm soát tốt hơn.

Lãi suất kỳ vọng giảm, ngân hàng hé lộ kết quả kinh doanh, vàng tăng sức hút
Giá vàng dự báo sẽ phục hồi nếu FED dừng chuỗi tăng lãi suất. Ảnh: T.L

Đơn cử riêng trong phiên giao dịch ngày 19/7 theo giờ Việt Nam, giá vàng niêm yết tại Kitco đã tăng vọt thêm tới 19 USD chỉ trong 1 ngày. Cuối tuần, giá vàng quốc tế đã có một số thời điểm điều chỉnh nhưng vẫn treo ở mặt bằng giá khá cao so với thời điểm cách đây 2 tuần, ghi nhận giá niêm yết vào buổi chiều ngày 21/7 theo giờ Việt Nam là 1.969 USD/ounce.

Nhiều nhà phân tích cho rằng, vàng nhận được trợ lực khi thị trường kỳ vọng tuần tới sẽ là đợt tăng lãi suất cuối cùng của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) trong chu kỳ thắt chặt tiền tệ.

Tại thị trường trong nước, giá vàng nhiều thời điểm không cùng xu hướng với giá vàng thế giới. Giá vàng SJC vào thời điểm chiều ngày 21/7 là 66,5 triệu đồng/lượng mua vào và 67,1 triệu đồng/lượng bán ra. Mặt bằng giá này xấp xỉ với mặt bằng giá của loại vàng này vào hôm thứ bảy tuần trước. Trong khi đó, giá vàng nhẫn ghi nhận mức mua vào là 56 triệu đồng mỗi lượng và bán ra là 57 triệu đồng mỗi lượng, cao hơn khoảng 150 nghìn đồng mỗi lượng so với thời điểm cuối tuần trước.

Dự báo về khả năng tăng lãi suất của FED cuối tháng 7

Hiện tại, thị trường dường như chắc chắn với mức tăng 25 điểm cơ bản tại cuộc họp chính sách diễn ra vào tuần tới. Theo công cụ dự báo thị trường FedWatch đưa ra xác xuất lên tới 99,8% khả năng FED sẽ tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản tại cuộc họp tới.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
Giá vàng hôm nay ngày 8/5: Giá vàng thế giới và trong nước trái chiều nhau

Giá vàng hôm nay ngày 8/5: Giá vàng thế giới và trong nước trái chiều nhau

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng ngày 8/5 đảo chiều giảm xuống quanh vùng 4.688 USD/ounce, thấp hơn khoảng 17,9 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.
Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng mạnh lên 4.696 USD/ounce - mức cao nhất trong hơn một tuần. Bên cạnh đó, giá vàng trong nước cũng đồng loạt điều chỉnh tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 5/5: Giá vàng giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/5: Giá vàng giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 5/5 đồng loạt giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục suy yếu, khiến chênh lệch giữa hai thị trường vẫn duy trì trên 20 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng nhẫn và vàng miếng sáng ngày 4/5 tăng từ 500.000 - 600.000 đồng/lượng, đưa mặt bằng giá giao dịch lên ngưỡng 163 - 166,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/5: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 163 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 3/5: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 163 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 3/5, giá vàng trong nước duy trì ổn định tại nhiều doanh nghiệp lớn, phổ biến quanh ngưỡng 163 - 166 triệu đồng/lượng ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,220 16,520
Kim TT/AVPL 16,220 16,520
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,220 16,520
Nguyên Liệu 99.99 15,240 15,440
Nguyên Liệu 99.9 15,190 15,390
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,020 16,420
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,970 16,370
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,900 16,350
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,200 165,200
Hà Nội - PNJ 162,200 165,200
Đà Nẵng - PNJ 162,200 165,200
Miền Tây - PNJ 162,200 165,200
Tây Nguyên - PNJ 162,200 165,200
Đông Nam Bộ - PNJ 162,200 165,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,220 16,520
Miếng SJC Nghệ An 16,220 16,520
Miếng SJC Thái Bình 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,220 16,520
NL 99.90 15,070
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,120
Trang sức 99.9 15,710 16,410
Trang sức 99.99 15,720 16,420
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,622 16,522
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,622 16,523
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,617 1,647
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,617 1,648
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Cập nhật: 12/05/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18508 18785 19360
CAD 18720 18998 19613
CHF 33135 33521 34161
CNY 0 3832 3924
EUR 30334 30608 31632
GBP 34984 35378 36308
HKD 0 3231 3433
JPY 160 164 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15332 15919
SGD 20183 20467 20990
THB 727 790 843
USD (1,2) 26057 0 0
USD (5,10,20) 26098 0 0
USD (50,100) 26127 26146 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,507 30,531 31,827
JPY 163.47 163.76 172.76
GBP 35,220 35,315 36,352
AUD 18,751 18,819 19,433
CAD 18,933 18,994 19,595
CHF 33,489 33,593 34,402
SGD 20,354 20,417 21,118
CNY - 3,809 3,934
HKD 3,303 3,313 3,434
KRW 16.52 17.23 18.65
THB 775.61 785.19 835.94
NZD 15,351 15,494 15,880
SEK - 2,806 2,891
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,822 2,907
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,278.17 - 7,052.17
TWD 758.72 - 914.54
SAR - 6,914.01 7,245.8
KWD - 83,853 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,373
EUR 30,412 30,534 31,718
GBP 35,165 35,306 36,318
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,244 33,378 34,322
JPY 163.72 164.38 171.86
AUD 18,691 18,766 19,358
SGD 20,403 20,485 21,073
THB 794 797 832
CAD 18,884 18,960 19,535
NZD 15,424 15,960
KRW 17.16 18.86
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26373
AUD 18703 18803 19726
CAD 18907 19007 20021
CHF 33405 33435 35014
CNY 3813.5 3838.5 3973.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30531 30561 32283
GBP 35303 35353 37114
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15452 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20351 20481 21214
THB 0 756.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16220000 16220000 16520000
SBJ 14000000 14000000 16520000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,130 26,180 26,373
USD20 26,130 26,180 26,373
USD1 26,130 26,180 26,373
AUD 18,723 18,823 19,950
EUR 30,647 30,647 32,090
CAD 18,815 18,915 20,243
SGD 20,428 20,578 21,490
JPY 164.57 166.07 170.77
GBP 35,157 35,507 36,656
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80