Thị trường tiền tệ tuần 24-28.7:

Tiếp tục khơi thông vốn cho doanh nghiệp, FED tăng lãi suất

Chí Tín
(TBTCO) - Thị trường tiền tệ trong nước trong tuần qua ghi nhận những động thái từ phía ngân hàng trong việc tiếp tục bàn thảo những giải pháp mới để khơi thông vốn hướng đến doanh nghiệp. Ở góc độ quốc tế, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất lần thứ 11 trong vòng 1 năm là tâm điểm chính của thị trường tài chính.
aa

Tiếp tục tìm giải pháp khơi thông vốn

Tuần qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã chủ trì tổ chức tọa đàm tăng khả năng hấp thụ vốn cho doanh nghiệp.

Theo NHNN, quy mô tín dụng 6 tháng đầu năm đạt khoảng 12,5 triệu tỷ đồng, tăng 4,73% so với cuối năm 2022; trong khi mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 2023 là 14%. Điều này phản ánh về khó khăn chung về sức hấp thụ vốn của nền kinh tế trong bối cảnh khách quan với nhiều yếu tố chi phối.

Tiếp tục khơi thông vốn cho doanh nghiệp, FED tăng lãi suất
Ngân hàng vẫn tiếp tục tìm các phương án khơi dòng vốn. Ảnh: T.L

Trong đó, một trong những khó khăn của doanh nghiệp hiện nay nhiều doanh nghiệp bị thiếu đơn hàng để sản xuất, trong khi chi phí sản xuất tăng cao khiến hiệu quả hoạt động suy giảm. Nhiều doanh nghiệp phải cắt giảm lao động, thu hẹp sản xuất, thậm chí phải đóng cửa, ngừng hoạt động vì thua lỗ, dẫn tới nhu cầu vốn vay giảm... Trước thực trạng này, nhiều doanh nghiệp không thể mở rộng sản xuất vì thế cũng không có nhu cầu vay vốn dù lãi suất thời gian qua đã giảm.

BIDV đưa lãi suất cho sản xuất kinh doanh lĩnh vực xanh xuống chỉ còn 6,5%

Ngân hàng BIDV cho biết đang triển khai gói vay chỉ từ 6,5%/năm để thực hiện phương án sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn khi đáp ứng một số tiêu chí về kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Trong bối cảnh này, ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng thư ký Hiệp hội ngân hàng Việt Nam cho biết, ngành ngân hàng nên tiếp tục triển khai các chương trình cho vay liên kết, chuỗi cung ứng; tích cực triển khai chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp để cùng tháo gỡ đồng bộ những khó khăn, vướng mắc. Về phía doanh nghiệp, ông Hùng cũng cho rằng, doanh nghiệp cần quyết liệt tái cơ cấu cả về chiến lược, cơ cấu tổ chức, hoạt động, tài chính và quản trị doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng trưởng về tài sản, minh bạch tài chính và thông tin hoạt động làm cơ sở để các ngân hàng thẩm định cho vay.

FED tăng lãi suất, nhưng ít ảnh hưởng trong nước

Một trong những động thái của thị trường tiền tệ thế giới tuần qua là việc FED đã thực hiện đợt tăng lãi suất lần thứ 11, sau khi tạm dừng tăng lãi suất tại cuộc họp hồi tháng 6. Với đợt tăng lãi suất này, lãi suất tham chiếu tại Mỹ hiện vào khoảng 5,25 - 5,5% - cao nhất kể từ năm 2001.

Đánh giá về sự ảnh hưởng của động thái này của FED, một số chuyên gia cho rằng sự ảnh hưởng tới thị trường tiền tệ trong nước là không nhiều. Đặc biệt, những đợt tăng lãi suất gần đây của FED đã không tạo ra biến động gì đáng kể đến Việt Nam. Thậm chí, trong thời gian FED tăng lãi suất, Việt Nam vẫn thực hiện các hành động ngược là giảm lãi suất điều hành 4 lần liên tiếp kể từ đầu năm 2023 đến nay. Nói về đợt tăng lãi suất trong lần gần đây nhất, TS. Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Thị trường tài chính thuộc Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho biết, ảnh hưởng của hành của FED lần này cũng sẽ không quá lớn bởi nhiều vấn đề đã được dự báo từ trước. Quan điểm của FED hiện nay đã khá rõ ràng, chừng nào lạm phát chưa về 2% thì họ sẽ tiếp tục tăng lãi suất hoặc ít nhất sẽ vẫn giữ mặt bằng lãi suất cao.

Tiếp tục khơi thông vốn cho doanh nghiệp, FED tăng lãi suất
Chuỗi tăng lãi suất của FED có thể vẫn chưa dùng lại. Ảnh: T.L

Vàng bị "xả" mạnh vào cuối tuần

Sau quyết định tăng lãi suất của FED, thị trường vàng chưa có phản ứng rõ ràng ngay, thậm chí vẫn tăng nhẹ trong ngày hôm đó. Tuy nhiên, vàng đã bị xả hàng bán ra khá mạnh trong ngày tiếp theo. Đến chiều ngày 28/7, giá vàng thế giới chỉ còn ở mức 1.950 USD/ounce, giảm tới khoảng hơn 20 USD so với thời điểm trước đó 2 ngày.

Giá vàng thế giới sụt giảm mạnh vào cuối tuần do một số lo ngại mới xuất hiện về việc lần tăng lãi suất vừa qua của FED có thể chưa phải lần cuối cùng. Các thông tin kinh tế vĩ mô của Mỹ mới công bố cho thấy nền kinh tế vẫn duy trì nhịp tăng trưởng ổn định và điều này có thể là cơ sở cho phép FED có thể có động thái cứng rắn hơn nữa với lãi suất để quyết đẩy lạm phát xuống mức thấp như họ mong muốn.

Tại thị trường trong nước, giá vàng miếng SJC giữ nhịp độ khá ổn định, trong khi vàng nhẫn có những biến động tăng giảm với biên độ mạnh hơn. Đến chiều ngày 28/7, giá vàng miếng ghi nhận ở mức 66,65 triệu đồng/lượng mua vào và 67,25 triệu đồng/lượng bán ra; giá vàng nhẫn là 56 triệu đồng/lượng mua vào và 57 triệu đồng/lượng bán ra.

NHNN ký ghi nhớ hợp tác chung với Ngân hàng Trung ương Ai Cập

Một sự kiện tài chính ngân hàng diễn ra tuần qua là việc NHNN đã ký biến bản ghi nhớ về hợp tác chung trong lĩnh vực ngân hàng với Ngân hàng Trung ương Ai Cập.

Về hợp tác giữa các ngân hàng thương mại, tính đến hết 31/12/2022, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã thiết lập 38 quan hệ đại lý với các ngân hàng tại Ai Cập với tổng doanh số thanh toán, chuyển tiền song phương đạt khoảng 204 triệu USD, cao nhất trong các nước tại khu vực Châu Phi.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong khi vàng trong nước tăng mạnh, vàng nhẫn có nơi đạt 145,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/8: Giá vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 16/8: Giá vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng, đưa vàng miếng lên 144,4 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn cao nhất đạt 144,7 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 45 USD/ounce, lùi về mức 4.357 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tương đối ổn định, trong khi vàng nhẫn tại nhiều thương hiệu quay đầu giảm.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 12/8: Giá vàng miếng và nhẫn tăng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 12/8: Giá vàng miếng và nhẫn tăng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng

(TBTCO) - Mở cửa phiên giao dịch ngày 12/8, giá vàng trong nước đồng loạt tăng ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn. Tuy nhiên, mức giá tăng không lớn, phổ biến từ 200.000 - 500.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 11/8: Trong nước bật tăng, vàng nhẫn Bảo Tín Mạnh Hải tăng 4,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra

Giá vàng hôm nay ngày 11/8: Trong nước bật tăng, vàng nhẫn Bảo Tín Mạnh Hải tăng 4,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp đà tăng, thêm gần 48 USD/ounce so với sáng hôm qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước bật tăng trở lại, đặc biệt giá vàng nhẫn ở Bảo Tín Mạnh Hải ghi nhận mức tăng 900.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và 4,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra, đưa giá vàng nhẫn lên 141,9 - 145,9 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,700 144,200
Hà Nội - PNJ 140,700 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,700 144,200
Miền Tây - PNJ 140,700 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,700 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,700 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,130 14,480
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,130 14,480
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,130 14,480
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,790 14,390
Trang sức 99.99 13,800 14,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 19/08/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18070 18345 18924
CAD 18341 18617 19234
CHF 31588 31968 32616
CNY 0 3830 3940
EUR 29673 29895 30979
GBP 34605 34997 35938
HKD 0 3207 3410
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15083 15671
SGD 19948 20230 20801
THB 707 770 823
USD (1,2) 25917 0 0
USD (5,10,20) 25957 0 0
USD (50,100) 25986 26000 26370
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,995 25,995 26,375
USD(1-2-5) 24,956 - -
USD(10-20) 24,956 - -
EUR 29,708 29,732 31,140
JPY 159.64 159.93 169.57
GBP 34,808 34,902 36,105
AUD 18,256 18,322 19,015
CAD 18,523 18,582 19,266
CHF 31,870 31,969 32,912
SGD 20,067 20,129 20,915
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.11 17.84 19.41
THB 755.63 764.96 818.99
NZD 15,077 15,217 15,669
SEK - 2,703 2,799
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,729 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,031.54 - 6,813.12
TWD 742.37 - 899.32
SAR - 6,854.96 7,220.03
KWD - 82,987 88,296
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,970 26,000 26,380
EUR 29,747 29,866 31,062
GBP 34,825 34,965 36,000
HKD 3,271 3,284 3,401
CHF 31,718 31,845 32,769
JPY 159.96 160.60 168.54
AUD 18,253 18,326 18,925
SGD 20,139 20,220 20,817
THB 772 775 812
CAD 18,534 18,608 19,201
NZD 15,157 15,703
KRW 17.72 19.72
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18250 18350 19281
CAD 18525 18625 19639
CHF 31844 31874 33452
CNY 3822.6 3847.6 3982.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29855 29885 31610
GBP 34920 34970 36728
HKD 0 3330 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15188 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20104 20234 20966
THB 0 736.1 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Cập nhật: 19/08/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80