Kích hoạt cơ chế rà soát chuỗi cung ứng trước tình thế rủi ro thương mại
Rủi ro từ đề xuất thuế quan của Mỹ
Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) vừa công bố kết luận điều tra theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, cho rằng 60 nền kinh tế đã không áp dụng hoặc thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức. Việt Nam là một trong các nền kinh tế thuộc diện điều tra và có thể chịu tác động trực tiếp từ đề xuất này.
Theo đề xuất, mức thuế bổ sung 10% sẽ được áp dụng đối với các nền kinh tế được đánh giá đã có một phần cơ chế hoặc cam kết kiểm soát hàng hóa liên quan đến lao động cưỡng bức, bao gồm Canada, Liên minh châu Âu (EU), Anh, Mexico, Indonesia, Pakistan, Bangladesh, Campuchia, Malaysia và một số đối tác khác.
![]() |
| Nguồn: Cục Thống kê (Bộ Tài chính). Đồ họa: Phương Anh |
Đối với 45 nền kinh tế còn lại, trong đó có Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore và Australia, USTR đề xuất áp mức thuế bổ sung 12,5%.
USTR cho rằng, việc các đối tác thương mại không ngăn chặn hiệu quả hàng hóa có liên quan đến lao động cưỡng bức đã tạo ra môi trường cạnh tranh không công bằng đối với người lao động và doanh nghiệp Mỹ. Theo USTR, “các doanh nghiệp sử dụng lao động cưỡng bức có thể giảm chi phí sản xuất, từ đó tạo lợi thế cạnh tranh không phù hợp trên thị trường quốc tế”.
Mặc dù đây mới là đề xuất chính sách và chưa phải quyết định cuối cùng, nhưng USTR ấn định hạn đăng ký phát biểu kèm tóm tắt nội dung là 22/6/2026, hạn nộp ý kiến bằng văn bản là ngày 6/7/2026 và dự kiến tổ chức điều trần vào ngày 7/7/2026.
Cơ quan này cũng cho biết, một số nhóm hàng sẽ được xem xét miễn trừ khỏi các mức thuế mới, bao gồm năng lượng, đất hiếm, một số kim loại quan trọng, thịt bò, cà phê, một số loại rau quả, dược phẩm, hóa chất hữu cơ và linh kiện máy bay.
Yêu cầu minh bạch trong từng mắt xích của chuỗi cung ứng“Hàng rào thuế quan buộc các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam phải tái cấu trúc sản xuất, nguyên liệu theo hướng tăng khả năng tự chủ, tiến tới minh bạch hơn trong từng mắt xích của chuỗi cung ứng, đa dạng hóa thị trường thông qua hệ thống 17 hiệp định thương mại tự do”. Ông Vũ Bá Phú - Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công thương |
Ngoài ra, USTR đang đề xuất một cơ chế riêng đối với ngành dệt may, cho phép một lượng hàng hóa nhất định được hưởng mức thuế ưu đãi thấp hơn.
Nhận định về tác động kinh tế vĩ mô, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cảnh báo, biện pháp thuế quan này đặt cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam trước một tình thế rủi ro thương mại nghiêm trọng.
Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, nên nếu bị áp thuế bổ sung 12,5% trên diện rộng sẽ làm suy giảm trực tiếp năng lực cạnh tranh và bào mòn biên lợi nhuận của các ngành xuất khẩu chủ lực như dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử và thủy sản.
Rủi ro hệ thống càng hiện rõ khi báo cáo của USTR chỉ đích danh hai chuỗi cung ứng cốt lõi có độ nhạy cảm cao là bông thô và polysilicon (đầu vào sản xuất pin năng lượng mặt trời) trong phần phân tích về hành vi lẩn tránh biện pháp trừng phạt.
Năm 2025, tổng giá trị hàng hóa sản xuất tại Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ đạt khoảng 153 tỷ USD. Trong đó, hơn nửa giá trị thuộc về các sản phẩm công nghệ cao, gồm hàng điện tử tiêu dùng, điện thoại thông minh, bên cạnh đó là các sản phẩm may mặc, giày dép...
Dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ là nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, đạt hơn 42 tỷ USD, tăng 81,3% so với năm 2024, chiếm 27,4% tỷ trọng xuất khẩu. Tiếp đến là nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, đạt 24,1 tỷ USD, chiếm 15,7%. Hàng dệt may đứng thứ 3, đạt 17,8 tỷ USD, chiếm 11,6%.
Do kim ngạch xuất khẩu hàng năm sang Mỹ lớn, nên bất kỳ một chính sách thương mại nào được ban hành theo hướng gia tăng thuế quan, đều sẽ tác động trực tiếp tới các nhà xuất khẩu.
Với các ngành điện tử, máy móc, thiết bị, vốn có chuỗi cung ứng phụ thuộc nhiều vào linh kiện nhập khẩu, nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại, xuất xứ và áp mức thuế cao hơn càng hiện hữu.
Thậm chí, nhiều ý kiến lo ngại rằng, việc sử dụng Điều khoản 301 có thể mở đường cho các biện pháp thuế quan và phi thuế quan bổ sung trong tương lai.
Yêu cầu không thể chậm trễ
Động thái đề xuất thuế quan với hàng hóa nhập khẩu vừa được USTR đưa ra cho thấy xu hướng gia tăng yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, minh bạch chuỗi cung ứng và tuân thủ các tiêu chuẩn lao động quốc tế của thị trường Mỹ ngày càng “gắt” hơn.
Tình huống rủi ro càng đặt các doanh nghiệp thuộc các ngành hàng xuất khẩu phải kích hoạt cơ chế rà soát chặt chẽ toàn bộ chuỗi cung ứng và triển khai quy trình truy xuất nguồn gốc nguyên liệu đầu vào.
Việc rà soát này, theo VCCI, là một yêu cầu mang tính cấp thiết không thể chậm trễ, nhằm triệt tiêu hoàn toàn các yếu tố liên quan đến cáo buộc lao động cưỡng bức.
“Từ nay đến trước ngày 6/7/2026 là giai đoạn vô cùng quan trọng. Các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp xuất khẩu cần nhanh chóng xây dựng, gửi văn bản bình luận và đăng ký tham gia phiên điều trần công khai” - VCCI nhấn mạnh.
Vào thời điểm này, câu chuyện thuế quan với thị trường Mỹ vẫn là biến số lớn nhất đối với triển vọng xuất khẩu của nước ta trong thời gian tới.
Liên quan đến câu chuyện thuế quan với hàng xuất sang Mỹ, bà Virginia B. Foote - Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Mỹ (AmCham) tại Hà Nội lưu ý, Việt Nam đang đứng trước giai đoạn quan trọng trong đàm phán thương mại với Mỹ, khi thời hạn dự kiến hoàn tất Thỏa thuận thuế đối ứng (ART) đang đến gần.
“Từ nay đến ngày 24/7, mục tiêu quan trọng nhất là Việt Nam cần hoàn tất việc ký kết ART với Mỹ nhằm xác lập mức thuế ổn định cho hàng hóa xuất khẩu trong bối cảnh nhiều quốc gia cạnh tranh trực tiếp đã đạt được những thỏa thuận ban đầu với Washington” - bà Foote cho hay.
Thông tin từ các cuộc tiếp xúc gần đây cho thấy, các đoàn đàm phán song phương của Việt Nam và Mỹ, từ cấp kỹ thuật đến cấp cao nhất đã được triển khai tích cực, dự kiến hoàn tất thỏa thuận trong tháng 6/2026.
Theo các chuyên gia thương mại, Mỹ ngày càng siết chặt các yêu cầu về sở hữu trí tuệ, xuất xứ và minh bạch chuỗi cung ứng, tiêu chuẩn về lao động, sản xuất bền vững.
Vì vậy, các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, mang về doanh thu xuất khẩu cao, cần tính toán lại đầu vào, giảm phụ thuộc quá lớn vào một nguồn cung ứng. Điều này đồng thời mở ra cơ hội hợp tác sâu hơn với các thị trường cung cấp nguyên liệu chiến lược, tránh rủi ro đứt gãy.
Về dài hạn, phải nội địa hóa và phát triển doanh nghiệp trong nước. Chính sách công nghiệp cần tập trung vào công nghiệp hỗ trợ, logistics, công nghệ lõi để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Cùng với đó, tái cân bằng thương mại một cách chủ động cũng là một bài toán cần lời giải. Việt Nam nên tăng nhập khẩu các sản phẩm công nghệ, năng lượng, dịch vụ tài chính từ Mỹ để giảm thặng dư thương mại, tạo thế cân bằng bền vững hơn.
Dành cho bạn
Đọc thêm
Ngày Tài chính số 2026: Mở rộng thanh toán không tiền mặt tới khách quốc tế
VCCI cảnh báo nguy cơ thuế 12,5% từ Hoa Kỳ, khuyến nghị doanh nghiệp khẩn trương rà soát chuỗi cung ứng
Hải quan nâng cao năng lực truyền thông số
Infographics: 5 tháng, doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng 27,6%
Green SM ra mắt dịch vụ taxi thuần điện Green SM Limo tại Ấn Độ
Hải quan lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ để nuôi dưỡng nguồn thu

