Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/8:

Lãi suất tín phiếu giảm lần thứ 2 trong tháng, tỷ giá hạ nhiệt, song giá vàng lại “nhảy múa” vì "khan cung"

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (19 - 23/8) là việc Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giảm lãi suất tín phiếu lần thứ 2 trong tháng, trong khi đó lãi suất huy động trên thị trường tiếp tục tăng. Tuần qua, tỷ giá "dịu hẳn", nhưng giá vàng cũng tiếp tục tăng vì nguồn cung nhỏ giọt. Giá vàng miếng SJC 9999 giữ vững mốc 81 triệu đồng/lượng.
aa

Giảm lãi suất tín phiếu lần thứ 2 trong tháng 8

Tuần qua, trong phiên giao dịch 20/8, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chào thầu tín phiếu NHNN kỳ hạn 14 ngày, đấu thầu lãi suất. Theo đó, có gần 5.000 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 4,20%/năm, giảm nhẹ so với mức 4,25%/năm phiên trước đó. Đây là lần thứ 2 kể từ đầu tháng 8/2024 NHNN giảm lãi suất tín phiếu. Trong phiên này, có 9.250 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng gần 1.965 tỷ đồng ra thị trường thông qua nghiệp vụ thị trường mở.

Khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố là hơn 46.585 tỷ đồng, khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường ở mức hơn 55.349 tỷ đồng. Trước đó, hồi đầu tháng 8, NHNN cũng giảm 0,25% với lãi cho vay cầm cố giấy tờ có giá và lãi suất tín phiếu.

Lãi suất tín phiếu giảm lần thứ 2 trong tháng, tỷ giá hạ nhiệt, song giá vàng lại “nhảy múa” vì

Lãi suất tiền gửi kỳ hạn dài cao tới 7,4%/năm. Ảnh: T.L

Lãi suất liên ngân hàng tiếp tục giảm

Trên thị trường liên ngân hàng lãi suất cũng tiếp tục hạ nhiệt. Ngày 20/08, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm 0,01 – 0,09 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên đầu tuần. Cụ thể, lãi suất qua đêm là 4,50%/năm; 1 tuần là 4,60%/năm; 2 tháng là 4,70%/năm và 1 tháng là 4,76%/năm. Theo các chuyên gia phân tích, tỷ giá hạ nhiệt đã làm giảm bớt áp lực cho lãi suất.

Mặc dù lãi suất liên ngân hàng và tỷ giá hạ nhiệt song lãi suất huy động trên thị trường vẫn tăng. NHNN vừa công bố thông tin về diễn biến lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng tháng 7/2024. Cụ thể, tiền gửi bằng VND bình quân của các ngân hàng thương mại trong nước ở mức 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng.

Mức 2,4% - 3,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,4% - 4,8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 5,5% - 6,2%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ trên 12 tháng đến 24 tháng và 6,9% - 7,4%/năm đối với kỳ hạn trên 24 tháng. Còn lãi suất tiền gửi USD của tổ chức tín dụng vẫn ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức.

Lãi vay giữ ổn định để kích cầu tín dụng

Về lãi suất cho vay, lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở trong khoảng 6,9% - 9,3%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,6%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN (4%/năm). Lãi suất cho vay USD bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 4,1%-5,0%/năm đối với ngắn hạn; 6,3% - 7,4%/năm đối với trung và dài hạn.

Tại thông báo mới nhất của NHNN về lãi suất liên ngân hàng ngày 20/8/2024, lãi suất qua đêm ở mức 4,5%/năm. Lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn 1 tuần - 2 tuần - 1 tháng lần lượt là 4,57% - 4,52% - 4,79%/năm.

Trước đó NHNN cũng cho hay, trong nửa đầu năm nay, lãi suất đối với các khoản vay mới và cũ tiếp tục giảm. Đến cuối tháng 6/2024, lãi suất cho vay bình quân ở mức 8,3%/năm, giảm 0,96% so cuối năm 2023. Lãi suất tiền gửi bình quân ở mức 3,59%/năm, giảm 1,08%/năm so cuối năm 2023.

Số liệu cho thấy, tăng trưởng tín dụng tháng cuối tháng 7/2024 chỉ tăng 5,66% so với cuối năm 2023, trong khi đến cuối tháng 6/2024 tăng 6%. Một trong những mục tiêu trọng tâm của NHNN trong tháng cuối năm là tập trung vốn hướng vào các lĩnh vực là động lực phát triển bao gồm xuất khẩu - đầu tư - tiêu dùng. Đặc biệt, với Thông tư 12/2024/TT-NHNN cho phép các tổ chức tín dụng cho vay các khoản dưới 100 triệu đồng không phải bắt buộc khách hàng cung cấp phương án sử dụng vốn khả thi. Đồng thời, cơ chế này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy sự tham gia của khối ngân hàng thương mại trong hoạt động cho vay tiêu dùng.

Giá vàng tiếp tục "nhảy múa"

Giá vàng thế giới đã tăng vượt đỉnh lịch sử vào cuối tuần qua và được dự báo sẽ còn xu hướng tăng trong thời gian tới. Thị trường vàng thế giới liên tục nổi sóng trong 2 tháng trở lại đây khiến thị trường vàng trong nước sau thời gian ngắn bình lặng lại bắt đầu “nhảy múa”.

Lãi suất tín phiếu giảm lần thứ 2 trong tháng, tỷ giá hạ nhiệt, song giá vàng lại “nhảy múa” vì
Giá vàng vàng miếng SJC 9999 giữ vững mốc 81 triệu đồng/lượng. Ảnh: T.L

Tuần trước, thị trường vàng tăng giá khá mạnh khi Ngân hàng Nhà nước công bố giá bán trực tiếp cho 4 ngân hàng và Công ty SJC với giá 79 triệu đồng/lượng (13/8). Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại và Công ty SJC bán vàng miếng SJC ra thị trường ở mức giá phổ biến là 80 triệu đồng/lượng. Giá vàng miếng SJC đã tăng 1,5 triệu đồng/lượng so với lần điều chỉnh giá kế trước.

Không dừng ở đó, tuần qua ngày 20/8 NHNN tiếp tục điều chỉnh tăng giá bán trực tiếp cho 4 ngân hàng và Công ty SJC với giá 80 triệu đồng/lượng, tăng 1 triệu đồng/lượng so với lần điều chỉnh gần nhất vào tuần trước. Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại và Công ty SJC bán vàng miếng SJC ra thị trường ở mức giá phổ biến là 81 triệu đồng/lượng.

Theo các chuyên gia, nguyên nhân giá vàng trong nước tăng được cho là do ảnh hưởng từ xu hướng của giá vàng quốc tế. Theo dự báo trên thế giới đang chia làm 2 xu hướng. Một hướng cho rằng, giá vàng thế giới có thể sẽ điều chỉnh giảm trở lại khi “test” ngưỡng 2.500 USD/ounce. Một số nhận định khác thì dự báo, mặc dù đã vượt đỉnh, nhưng giá vàng thế giới có thể còn tăng và tiến lên ngưỡng 2.600 USD/ounce.

Tỷ giá hạ nhiệt

Những ngày qua, tỷ giá VND/USD đã hạ nhiệt đáng kể, một phần do đồng Đô la Mỹ giảm giá mạnh trên thị trường quốc tế. Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 19/8 ghi nhận ở mức 24.254 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuần qua, NHNN điều chỉnh tỷ giá tăng vào hôm thứ Ba sau đó giảm mạnh vào hôm thứ Năm và thứ Sáu cuối tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.245 đồng/USD, giảm 9 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.230 đồng/USD, tăng 20 đồng/USD so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục giảm tỷ giá bán ra trong hôm thứ Ba và Thứ Tư, nhưng sau đó liên tục trong hôm thứ Năm và và thứ Sáu điều chỉnh tăng. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.120 đồng/USD, giảm 110 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Tỷ giá đã hạ nhiệt đáng kể trong hơn một tháng qua. Hiện, giá mua USD tại các ngân hàng nằm trong khoảng 24.680 - 24.785 đồng/USD và giá bán ra dao động trong phạm vi 25.120 - 25.130 đồng/USD./.

Chỉ số DXY giảm mạnh

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu giảm mạnh trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 23/8 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 101.39 điểm, giảm mạnh so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 30/7: Giá vàng thế giới tăng mạnh, vàng trong nước lại quay đầu tăng

Giá vàng hôm nay ngày 30/7: Giá vàng thế giới tăng mạnh, vàng trong nước lại quay đầu tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 76 USD/ounce lên 4.094 USD/ounce sau khi Fed giữ nguyên lãi suất. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng điều chỉnh tăng trở lại.
Cho vay tăng mạnh 37% giúp NCB lãi hơn 700 tỷ đồng, tạo đà hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại

Cho vay tăng mạnh 37% giúp NCB lãi hơn 700 tỷ đồng, tạo đà hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại

(TBTCO) - Ngân hàng NCB báo lãi sau thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 726,7 tỷ đồng, tăng 57% cùng kỳ, trong đó quý II lập kỷ lục với hơn 510 tỷ đồng. Cùng kết quả kinh doanh khởi sắc, tín dụng tăng 37% đưa dư nợ cho vay khách hàng lên hơn 133.500 tỷ đồng, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch, đưa ngân hàng tiến gần mục tiêu hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại.
Bỏ trứng nhiều "giỏ", danh mục đầu tư đa dạng giúp Tái bảo hiểm VINARE báo lãi hơn 290 tỷ đồng

Bỏ trứng nhiều "giỏ", danh mục đầu tư đa dạng giúp Tái bảo hiểm VINARE báo lãi hơn 290 tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận 6 tháng đầu năm 2026 của Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE) đạt 290,5 tỷ đồng, tăng 17,1% cùng kỳ, nhờ hoạt động tài chính khởi sắc với lợi nhuận gộp trên 257 tỷ đồng. Tổng công ty duy trì danh mục đầu tư tài chính gần 6.400 tỷ đồng, phân bổ đa dạng nhằm tối ưu hiệu quả đầu tư và quản trị rủi ro.
Điều hành chính sách tiền tệ trong thế đa "biến số", đa mục tiêu

Điều hành chính sách tiền tệ trong thế đa "biến số", đa mục tiêu

(TBTCO) - Điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam đang đối mặt nhiều "biến số", tác động đến các chỉ tiêu cân đối lớn như: lạm phát, tỷ giá, lãi suất, thanh khoản, tăng trưởng tín dụng... Nửa cuối năm, bài toán không chỉ là giữ nhịp tăng trưởng, mà còn phải phối hợp linh hoạt các công cụ để giữ ổn định hệ thống.
Định hình hệ thống ngân hàng hiện đại đến năm 2045, phát triển sàn giao dịch nợ, sở giao dịch vàng

Định hình hệ thống ngân hàng hiện đại đến năm 2045, phát triển sàn giao dịch nợ, sở giao dịch vàng

(TBTCO) - Một trong những nội dung trọng tâm của Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam là hướng đến phát triển hệ thống ngân hàng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả dựa trên nền tảng công nghệ số đến năm 2045. Trong đó, Đề án định hướng phát triển Sàn giao dịch nợ quốc gia trên nền tảng số, xây dựng sàn/sở giao dịch vàng, khả năng triển khai đồng tiền kỹ thuật số quốc gia...
Yếu tố nào sẽ tác động lên xu hướng của giá vàng?

Yếu tố nào sẽ tác động lên xu hướng của giá vàng?

(TBTCO) - Theo ông Phan Dũng Khánh - Chuyên gia tư vấn đầu tư độc lập, thị trường vàng chịu tác động từ nhiều yếu tố quốc tế như chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, đồng USD và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ, cùng các yếu tố trong nước như tâm lý nhà đầu tư và quan hệ cung - cầu. Tuy nhiên, xu hướng giá vàng vẫn chủ yếu phụ thuộc vào diễn biến của thị trường thế giới.
Giá vàng hôm nay ngày 29/7: Vàng thế giới mất gần 60 USD/ounce, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 29/7: Vàng thế giới mất gần 60 USD/ounce, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm từ 1 - 1,5 triệu đồng/lượng.
Phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2045: Mở đường sandbox, xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia

Phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2045: Mở đường sandbox, xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia

(TBTCO) - Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính định hướng phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn, bền vững. Bên cạnh nghiên cứu triển khai sandbox với một số mô hình kinh doanh bảo hiểm ứng dụng công nghệ mới, Đề án cũng hướng tới xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia, ứng dụng blockchain để lưu vết hồ sơ bồi thường, cảnh báo trục lợi...
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,500 ▲1000K 142,400 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 137,500 ▲1000K 142,400 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 137,500 ▲1000K 142,400 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 137,500 ▲1000K 142,400 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 137,500 ▲1000K 142,400 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,500 ▲1000K 142,400 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,850 ▲100K 14,250 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 13,850 ▲100K 14,250 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 13,850 ▲100K 14,250 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,850 ▲50K 14,250 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,850 ▲50K 14,250 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,850 ▲50K 14,250 ▲50K
NL 99.99 12,950
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,440 ▲50K 14,140 ▲50K
Trang sức 99.99 13,450 ▲50K 14,150 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,385 ▲10K 14,252 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,385 ▲10K 14,253 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 138 ▲1K 142 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 138 ▲1K 1,421 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 135 ▲1K 140 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,614 ▲990K 138,614 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,361 ▲85900K 105,161 ▲94720K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,556 ▼76323K 9,536 ▼85143K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,759 ▲611K 85,559 ▲611K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,978 ▲583K 81,778 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,736 ▲417K 58,536 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Cập nhật: 30/07/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17760 18033 18608
CAD 18193 18469 19081
CHF 31606 31986 32646
CNY 0 3851 3943
EUR 29497 29718 30794
GBP 34315 34706 35636
HKD 0 3224 3426
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14970 15552
SGD 19856 20138 20708
THB 700 763 816
USD (1,2) 26044 0 0
USD (5,10,20) 26085 0 0
USD (50,100) 26114 26123 26487
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,594 29,618 31,032
JPY 156.66 156.94 166.4
GBP 34,513 34,606 35,808
AUD 17,973 18,038 18,724
CAD 18,388 18,447 19,128
CHF 31,899 31,998 32,947
SGD 19,989 20,051 20,844
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,289 3,299 3,437
KRW 16.8 17.52 19.06
THB 749.19 758.44 811.93
NZD 14,962 15,101 15,552
SEK - 2,680 2,774
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,694 2,790
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,022.16 - 6,796.06
TWD 732.98 - 887.86
SAR - 6,893.38 7,259.92
KWD - 83,233 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,601 29,720 30,915
GBP 34,533 34,672 35,702
HKD 3,288 3,301 3,418
CHF 31,771 31,899 32,820
JPY 156.99 157.62 165.54
AUD 17,975 18,047 18,642
SGD 20,066 20,147 20,738
THB 767 770 806
CAD 18,409 18,483 19,064
NZD 15,027 15,572
KRW 17.45 19.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26125 26125 26505
AUD 17968 18068 18991
CAD 18380 18480 19495
CHF 31884 31914 33500
CNY 3831.7 3856.7 3992.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29694 29724 31449
GBP 34633 34683 36452
HKD 0 3355 0
JPY 157.45 157.95 168.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.5 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15073 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20024 20154 20885
THB 0 730.8 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13850000 13850000 14250000
SBJ 12500000 12500000 14250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,142 26,192 26,530
USD20 26,092 26,192 26,536
USD1 24,054 26,192 26,586
AUD 18,008 18,108 19,223
EUR 29,488 29,588 31,261
CAD 18,330 18,430 19,748
SGD 20,103 20,253 20,824
JPY 157.91 159.41 165.04
GBP 34,532 34,682 35,920
XAU 13,748,000 0 14,152,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/07/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80