Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/8:

Lãi suất tín phiếu giảm lần thứ 2 trong tháng, tỷ giá hạ nhiệt, song giá vàng lại “nhảy múa” vì "khan cung"

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (19 - 23/8) là việc Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giảm lãi suất tín phiếu lần thứ 2 trong tháng, trong khi đó lãi suất huy động trên thị trường tiếp tục tăng. Tuần qua, tỷ giá "dịu hẳn", nhưng giá vàng cũng tiếp tục tăng vì nguồn cung nhỏ giọt. Giá vàng miếng SJC 9999 giữ vững mốc 81 triệu đồng/lượng.
aa

Giảm lãi suất tín phiếu lần thứ 2 trong tháng 8

Tuần qua, trong phiên giao dịch 20/8, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chào thầu tín phiếu NHNN kỳ hạn 14 ngày, đấu thầu lãi suất. Theo đó, có gần 5.000 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 4,20%/năm, giảm nhẹ so với mức 4,25%/năm phiên trước đó. Đây là lần thứ 2 kể từ đầu tháng 8/2024 NHNN giảm lãi suất tín phiếu. Trong phiên này, có 9.250 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng gần 1.965 tỷ đồng ra thị trường thông qua nghiệp vụ thị trường mở.

Khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố là hơn 46.585 tỷ đồng, khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường ở mức hơn 55.349 tỷ đồng. Trước đó, hồi đầu tháng 8, NHNN cũng giảm 0,25% với lãi cho vay cầm cố giấy tờ có giá và lãi suất tín phiếu.

Lãi suất tín phiếu giảm lần thứ 2 trong tháng, tỷ giá hạ nhiệt, song giá vàng lại “nhảy múa” vì

Lãi suất tiền gửi kỳ hạn dài cao tới 7,4%/năm. Ảnh: T.L

Lãi suất liên ngân hàng tiếp tục giảm

Trên thị trường liên ngân hàng lãi suất cũng tiếp tục hạ nhiệt. Ngày 20/08, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm 0,01 – 0,09 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên đầu tuần. Cụ thể, lãi suất qua đêm là 4,50%/năm; 1 tuần là 4,60%/năm; 2 tháng là 4,70%/năm và 1 tháng là 4,76%/năm. Theo các chuyên gia phân tích, tỷ giá hạ nhiệt đã làm giảm bớt áp lực cho lãi suất.

Mặc dù lãi suất liên ngân hàng và tỷ giá hạ nhiệt song lãi suất huy động trên thị trường vẫn tăng. NHNN vừa công bố thông tin về diễn biến lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng tháng 7/2024. Cụ thể, tiền gửi bằng VND bình quân của các ngân hàng thương mại trong nước ở mức 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng.

Mức 2,4% - 3,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,4% - 4,8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 5,5% - 6,2%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ trên 12 tháng đến 24 tháng và 6,9% - 7,4%/năm đối với kỳ hạn trên 24 tháng. Còn lãi suất tiền gửi USD của tổ chức tín dụng vẫn ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức.

Lãi vay giữ ổn định để kích cầu tín dụng

Về lãi suất cho vay, lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở trong khoảng 6,9% - 9,3%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,6%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN (4%/năm). Lãi suất cho vay USD bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 4,1%-5,0%/năm đối với ngắn hạn; 6,3% - 7,4%/năm đối với trung và dài hạn.

Tại thông báo mới nhất của NHNN về lãi suất liên ngân hàng ngày 20/8/2024, lãi suất qua đêm ở mức 4,5%/năm. Lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn 1 tuần - 2 tuần - 1 tháng lần lượt là 4,57% - 4,52% - 4,79%/năm.

Trước đó NHNN cũng cho hay, trong nửa đầu năm nay, lãi suất đối với các khoản vay mới và cũ tiếp tục giảm. Đến cuối tháng 6/2024, lãi suất cho vay bình quân ở mức 8,3%/năm, giảm 0,96% so cuối năm 2023. Lãi suất tiền gửi bình quân ở mức 3,59%/năm, giảm 1,08%/năm so cuối năm 2023.

Số liệu cho thấy, tăng trưởng tín dụng tháng cuối tháng 7/2024 chỉ tăng 5,66% so với cuối năm 2023, trong khi đến cuối tháng 6/2024 tăng 6%. Một trong những mục tiêu trọng tâm của NHNN trong tháng cuối năm là tập trung vốn hướng vào các lĩnh vực là động lực phát triển bao gồm xuất khẩu - đầu tư - tiêu dùng. Đặc biệt, với Thông tư 12/2024/TT-NHNN cho phép các tổ chức tín dụng cho vay các khoản dưới 100 triệu đồng không phải bắt buộc khách hàng cung cấp phương án sử dụng vốn khả thi. Đồng thời, cơ chế này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy sự tham gia của khối ngân hàng thương mại trong hoạt động cho vay tiêu dùng.

Giá vàng tiếp tục "nhảy múa"

Giá vàng thế giới đã tăng vượt đỉnh lịch sử vào cuối tuần qua và được dự báo sẽ còn xu hướng tăng trong thời gian tới. Thị trường vàng thế giới liên tục nổi sóng trong 2 tháng trở lại đây khiến thị trường vàng trong nước sau thời gian ngắn bình lặng lại bắt đầu “nhảy múa”.

Lãi suất tín phiếu giảm lần thứ 2 trong tháng, tỷ giá hạ nhiệt, song giá vàng lại “nhảy múa” vì
Giá vàng vàng miếng SJC 9999 giữ vững mốc 81 triệu đồng/lượng. Ảnh: T.L

Tuần trước, thị trường vàng tăng giá khá mạnh khi Ngân hàng Nhà nước công bố giá bán trực tiếp cho 4 ngân hàng và Công ty SJC với giá 79 triệu đồng/lượng (13/8). Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại và Công ty SJC bán vàng miếng SJC ra thị trường ở mức giá phổ biến là 80 triệu đồng/lượng. Giá vàng miếng SJC đã tăng 1,5 triệu đồng/lượng so với lần điều chỉnh giá kế trước.

Không dừng ở đó, tuần qua ngày 20/8 NHNN tiếp tục điều chỉnh tăng giá bán trực tiếp cho 4 ngân hàng và Công ty SJC với giá 80 triệu đồng/lượng, tăng 1 triệu đồng/lượng so với lần điều chỉnh gần nhất vào tuần trước. Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại và Công ty SJC bán vàng miếng SJC ra thị trường ở mức giá phổ biến là 81 triệu đồng/lượng.

Theo các chuyên gia, nguyên nhân giá vàng trong nước tăng được cho là do ảnh hưởng từ xu hướng của giá vàng quốc tế. Theo dự báo trên thế giới đang chia làm 2 xu hướng. Một hướng cho rằng, giá vàng thế giới có thể sẽ điều chỉnh giảm trở lại khi “test” ngưỡng 2.500 USD/ounce. Một số nhận định khác thì dự báo, mặc dù đã vượt đỉnh, nhưng giá vàng thế giới có thể còn tăng và tiến lên ngưỡng 2.600 USD/ounce.

Tỷ giá hạ nhiệt

Những ngày qua, tỷ giá VND/USD đã hạ nhiệt đáng kể, một phần do đồng Đô la Mỹ giảm giá mạnh trên thị trường quốc tế. Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 19/8 ghi nhận ở mức 24.254 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuần qua, NHNN điều chỉnh tỷ giá tăng vào hôm thứ Ba sau đó giảm mạnh vào hôm thứ Năm và thứ Sáu cuối tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.245 đồng/USD, giảm 9 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.230 đồng/USD, tăng 20 đồng/USD so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục giảm tỷ giá bán ra trong hôm thứ Ba và Thứ Tư, nhưng sau đó liên tục trong hôm thứ Năm và và thứ Sáu điều chỉnh tăng. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.120 đồng/USD, giảm 110 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Tỷ giá đã hạ nhiệt đáng kể trong hơn một tháng qua. Hiện, giá mua USD tại các ngân hàng nằm trong khoảng 24.680 - 24.785 đồng/USD và giá bán ra dao động trong phạm vi 25.120 - 25.130 đồng/USD./.

Chỉ số DXY giảm mạnh

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu giảm mạnh trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 23/8 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 101.39 điểm, giảm mạnh so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 20/09/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 20/09/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30