Luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14: Nợ xấu được "cởi trói" nhưng hiệu quả thực sẽ có độ trễ

Thu Hương
(TBTCO) - Việc luật hóa một số nội dung của Nghị quyết 42/2017/QH14 không chỉ giúp tháo gỡ rào cản pháp lý trong thu hồi tài sản bảo đảm, quy định mới còn được kỳ vọng cải thiện chất lượng tài sản và hiệu quả tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, các quy định này sẽ chưa có tác động ngay tới báo cáo tài chính của các ngân hàng, mà thường phải có độ trễ.
aa
Luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14: Nợ xấu được
Việc rút ngắn quy trình xử lý nhờ quyền thu giữ tài sản bảo đảm sẽ giúp các ngân hàng thu hồi nợ nhanh hơn. Ảnh tư liệu

Xử lý nợ xấu nhanh và rõ ràng hơn

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ 15/10/2025, trong đó luật hóa nhiều nội dung trọng yếu từng được thí điểm theo Nghị quyết 42/2017/QH14, là một bước đi quan trọng nhằm chuyển cơ chế xử lý nợ xấu từ khung tạm thời sang khung pháp lý ổn định và lâu dài cho các tổ chức tín dụng. Động thái này không chỉ thể hiện quyết tâm của ngành Ngân hàng trong việc xử lý dứt điểm nợ xấu tồn đọng, mà còn mở đường cho hệ thống ngân hàng vận hành minh bạch, hiệu quả hơn.

Việc luật hóa cho phép các ngân hàng có cơ sở pháp lý rõ ràng và đầy đủ hơn trong việc thu hồi tài sản bảo đảm, thúc đẩy quá trình xử lý các khoản nợ không sinh lời vốn đang làm tắc nghẽn dòng chảy tín dụng. Qua đó, nguồn vốn được khơi thông, khả năng cấp tín dụng mới được cải thiện, và các chỉ số hoạt động của ngân hàng, từ chất lượng tài sản, hiệu quả sinh lời cho tới hệ số an toàn vốn, cũng sẽ được cải thiện rõ rệt trong thời gian tới.

Theo ông Lê Hoài Ân – Chuyên gia nghiên cứu chiến lược ngân hàng, kể từ khi có hiệu lực vào ngày 15/8/2017, Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã có 10 nhóm vấn đề lớn được tháo gỡ, đặc biệt là các vướng mắc liên quan đến thu giữ tài sản đảm bảo, xử lý tài sản trong thi hành án, xử lý các khoản nợ đã rời khỏi bảng cân đối kế toán...

Cổ phiếu ngân hàng được tiếp sức từ cải cách pháp lý

Từ đầu tháng 7 tới nay, thị trường chứng khoán ghi nhận diễn biến tích cực khi VN-Index vượt mốc 1.500 điểm, trong đó, cổ phiếu ngân hàng cũng lan tỏa sắc xanh. Tuy nhiên, theo chuyên gia Lê Hoài Ân, mức tăng này chủ yếu phản ánh kỳ vọng sẵn có, trong khi nhà đầu tư vẫn chờ các văn bản hướng dẫn cụ thể để đánh giá rõ hơn dư địa và tốc độ xử lý nợ xấu tại từng ngân hàng.

Một số nội dung trọng yếu trong số đó đã chính thức được luật hóa vào ngày 27/6 vừa qua, khi Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng. Việc luật hóa không chỉ củng cố hành lang pháp lý từ cơ chế thí điểm sang khung pháp lý ổn định và lâu dài, mà còn tạo điều kiện để hệ thống ngân hàng xử lý nợ xấu nhanh hơn, hiệu quả hơn và an toàn hơn về mặt pháp lý.

Đồng quan điểm, ông Đỗ Thanh Tùng – Trưởng phòng cao cấp, Trung tâm phân tích, Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho biết, điểm nổi bật trong lần sửa đổi này là luật hóa các quy định từng thuộc phạm vi thí điểm của Nghị quyết 42/2017/QH14, như quyền thu giữ tài sản bảo đảm, cơ chế hoàn trả tang vật không còn liên quan đến tố tụng, và quy định về xử lý tài sản của bên bị kê biên đang dùng làm tài sản bảo đảm.

“Với việc đưa vào luật, phạm vi điều chỉnh được mở rộng, áp dụng cho toàn bộ các khoản nợ xấu hiện hành. Đây là thay đổi có tính nền tảng, giúp xử lý nợ xấu nhanh hơn, rõ ràng hơn về pháp lý và bền vững hơn trong dài hạn” – ông Tùng nhấn mạnh.

Nếu được triển khai hiệu quả, sẽ giúp làm sống lại khoản tín dụng 1 triệu tỷ đồng đang "nằm chết" trong khối tài sản đảm bảo không được xử lý, khơi thông nguồn lực và đưa vào nền kinh tế, đóng góp vào mức tăng trưởng GDP hơn 8% của năm nay và 2 con số của giai đoạn tiếp theo.

Phản ánh vào lợi nhuận ngân hàng sẽ có độ trễ

Cũng theo ông Đỗ Thanh Tùng, việc luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14 sẽ tác động tích cực tới hiệu quả tài chính của các ngân hàng, đặc biệt ở khâu xử lý nợ xấu. Khi nợ xấu còn trong nội bảng, việc rút ngắn quy trình xử lý nhờ quyền thu giữ tài sản bảo đảm mà không cần qua tố tụng sẽ giúp các ngân hàng thu hồi nợ nhanh hơn, hoàn nhập dự phòng và cải thiện lợi nhuận. Với các khoản nợ đã xuất toán ra ngoại bảng, phần thu hồi từ xử lý tài sản sẽ ghi nhận vào thu nhập khác, từ đó hỗ trợ thu nhập ngoài lãi.

Tuy vậy, theo ông Tùng, ảnh hưởng của luật hóa đến báo cáo tài chính sẽ không thể hiện ngay, mà cần từ nửa năm đến một năm, do quá trình xử lý tài sản và thu hồi nợ có độ trễ. Một chỉ báo đáng chú ý là thu nhập khác, đặc biệt từ thu hồi nợ ngoại bảng, nếu tăng mạnh từ quý II hoặc quý III/2026 sẽ là tín hiệu rõ nét cho hiệu quả của khung pháp lý mới.

Ông Lê Hoài Ân thông tin thêm, các ngân hàng quốc doanh thường ưu tiên nhận tài sản bảo đảm là bất động sản, vốn có giá trị lớn hơn dư nợ, nên chất lượng tài sản đảm bảo rất cao. Khi được tháo gỡ vướng mắc pháp lý, đặc biệt với các khoản nợ ngoại bảng đang “để dành”, tiến độ thu hồi sẽ được đẩy nhanh. Đây là lợi thế đáng kể với các ngân hàng như VietinBank, BIDV hay Vietcombank – những đơn vị có khối nợ ngoại bảng lớn.

Ngược lại, các ngân hàng nhỏ hơn như KienLongBank, NaviBank hay ABBank có tỷ lệ dư nợ trên tài sản đảm bảo cao hơn do sử dụng nhiều động sản (hàng tồn kho, thiết bị…), nên cũng được hưởng lợi từ các quy định mới liên quan đến thu giữ tài sản.

Khơi thông nguồn thu từ xử lý nợ tại các ngân hàng

Theo ông Phan Duy Hưng – Giám đốc Phân tích cao cấp tại VIS Rating, Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi đã khôi phục quyền thu giữ tài sản bảo đảm không tranh chấp, giúp ngân hàng xử lý nợ xấu hiệu quả hơn. Trước đó, khi Nghị quyết 42/2017/QH14 hết hiệu lực, quá trình thu hồi tài sản phải qua thủ tục tố tụng kéo dài, khiến tỷ lệ thu hồi giảm mạnh. Trong nửa đầu 2024, hơn 50% nợ xấu được xử lý qua trích lập và xóa nợ, tương đương 30 - 40% vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ thu hồi từ tài sản bảo đảm giảm còn 27% do thị trường bất động sản trầm lắng.

Một số ngân hàng bán lẻ ghi nhận nợ có vấn đề tăng từ 1,6% lên 2,2%, chủ yếu từ cho vay mua nhà và hộ kinh doanh. Luật sửa đổi cũng cho phép Ngân hàng Nhà nước cấp tín dụng đặc biệt lãi suất 0% cho các tổ chức tín dụng khó khăn, góp phần ổn định hệ thống, hỗ trợ lợi nhuận ngân hàng nhờ cải thiện khả năng thu hồi nợ và giảm chi phí vận hành./.

Thu Hương

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/7): Tỷ giá USD ngân hàng tiến sát trần khi DXY duy trì vùng cao trên 101 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (22/7): Tỷ giá USD ngân hàng tiến sát trần khi DXY duy trì vùng cao trên 101 điểm

(TBTCO) - Sáng 22/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên ở mức 25.260 đồng, song tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng thương mại tiếp tục nhích tăng. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,2% lên 101,19 điểm khi nhu cầu nắm giữ đồng bạc xanh gia tăng trước căng thẳng địa chính trị.
Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

(TBTCO) - Ngày 21/7/2026, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank, mã CK: TCB, sàn HOSE) công bố kết quả hoạt động kinh doanh quý II và 6 tháng đầu năm 2026 với những con số nổi bật. Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II là tâm điểm bứt phá khi thiết lập mức đỉnh mới về lợi nhuận.
Không chỉ sắp xếp, tái cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

Không chỉ sắp xếp, tái cơ cấu để doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Số lượng doanh nghiệp Nhà nước đã giảm từ hơn 12.000 xuống còn 695, song quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa và thoái vốn vẫn còn nhiều "điểm nghẽn". Nhiều ý kiến cho rằng mục tiêu không phải chỉ sắp xếp, "dọn dẹp" hay bán vốn, mà là nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và vai trò dẫn dắt tăng trưởng của doanh nghiệp nhà nước.
VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

(TBTCO) - Thị trường nhiều biến động cùng sự xuất hiện của các loại hình rủi ro mới đang dần tái định hình vai trò của ngành bảo hiểm: từ đơn vị cung cấp sản phẩm trở thành đối tác đồng hành quản trị rủi ro. Với định hướng đó, Bảo hiểm VietinBank – VBI đang từng bước kiến tạo những giá trị mới cho khách hàng, được bảo chứng bằng những nỗ lực tăng trưởng tích cực, đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026.
Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà.
MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 -142,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 ▲300K 145,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 140,500 ▲300K 145,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 140,500 ▲300K 145,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 140,500 ▲300K 145,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 140,500 ▲300K 145,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 ▲300K 145,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 ▲10K 14,650 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 14,350 ▲10K 14,650 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 14,350 ▲10K 14,650 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲50K 14,650 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲50K 14,650 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲50K 14,650 ▲50K
NL 99.99 13,200 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▲200K
Trang sức 99.9 13,840 ▲50K 14,540 ▲50K
Trang sức 99.99 13,850 ▲50K 14,550 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 142 ▼1292K 14,602 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 142 ▼1292K 14,603 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 141 ▼1278K 145 ▼1309K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 141 ▼1278K 1,451 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 138 ▼1251K 143 ▼1291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,584 ▲121086K 141,584 ▲127386K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,611 ▼300K 107,411 ▼300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 876 ▼86996K 974 ▼96698K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,589 ▼244K 87,389 ▼244K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,727 ▼234K 83,527 ▼234K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,987 ▼167K 59,787 ▼167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1292K 146 ▼1318K
Cập nhật: 22/07/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17898 18172 18745
CAD 18161 18437 19052
CHF 31780 32161 32799
CNY 0 3848 3940
EUR 29421 29642 30717
GBP 34442 34833 35765
HKD 0 3229 3431
JPY 154 158 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15020 15610
SGD 19866 20148 20721
THB 695 758 812
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26157 26517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,533 29,557 30,966
JPY 157.02 157.3 166.79
GBP 34,603 34,697 35,891
AUD 18,087 18,152 18,837
CAD 18,339 18,398 19,074
CHF 32,020 32,120 33,060
SGD 19,980 20,042 20,823
CNY - 3,813 3,958
HKD 3,291 3,301 3,438
KRW 16.41 17.11 18.61
THB 743.43 752.61 805.68
NZD 14,993 15,132 15,581
SEK - 2,665 2,759
DKK - 3,951 4,089
NOK - 2,689 2,783
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,017.74 - 6,792.73
TWD 734.82 - 889.54
SAR - 6,895.4 7,262.43
KWD - 83,233 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,464 29,582 30,774
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,845 31,973 32,898
JPY 157.29 157.92 165.78
AUD 18,108 18,181 18,779
SGD 20,029 20,109 20,699
THB 761 764 800
CAD 18,333 18,407 18,984
NZD 15,102 15,647
KRW 17.03 18.87
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26155 26155 26515
AUD 18092 18192 19114
CAD 18319 18419 19430
CHF 31995 32025 33611
CNY 3829.9 3854.9 3990.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29584 29614 31339
GBP 34745 34795 36556
HKD 0 3355 0
JPY 157.93 158.43 168.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15145 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19998 20128 20860
THB 0 724.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,163 26,213 26,523
USD20 26,163 26,213 26,523
USD1 26,163 26,213 26,523
AUD 18,123 18,223 19,327
EUR 29,399 29,499 31,155
CAD 18,272 18,372 19,679
SGD 20,097 20,247 20,806
JPY 158.44 159.94 165.47
GBP 34,631 34,781 35,845
XAU 14,338,000 0 14,702,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 760 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/07/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80