Mở rộng diện đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội: Cân bằng an toàn và hiệu quả

Hoàng Yến
(TBTCO) - Góp ý về đề xuất mở rộng diện ngân hàng được nhận tiền gửi từ Quỹ Bảo hiểm xã hội, đại biểu Vũ Văn Tiến cho rằng, quỹ cần đa dạng hóa danh mục, thận trọng nhưng không trì trệ, nâng hiệu quả đầu tư nhưng phải bảo đảm an toàn cho khoản tích lũy của người lao động.
aa

Đánh giá rõ lợi ích và rủi ro

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội đề xuất mở rộng diện ngân hàng được nhận tiền gửi từ Quỹ Bảo hiểm xã hội.

Bên cạnh ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước trên 50% vốn điều lệ, dự thảo bổ sung ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước và doanh nghiệp nhà nước trên 50% vốn điều lệ; ngân hàng thương mại cổ phần có vốn doanh nghiệp nhà nước trên 50% vốn điều lệ. Các ngân hàng thuộc diện bổ sung phải có chất lượng tốt, mức độ an toàn cao theo đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng.

Mở rộng diện đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội: Cân bằng an toàn và hiệu quả
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Phòng).

Tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách chiều 29/9, góp ý về nội dung này, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Phòng) cho rằng mục tiêu tạo thêm lựa chọn đầu tư cần được xem xét cùng yêu cầu an toàn, bởi tiền của quỹ là nguồn tích lũy từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và liên quan trực tiếp đến việc chi trả chế độ trong nhiều năm tới.

Theo đại biểu, cần làm rõ quy định hiện hành đang gặp vướng mắc gì, việc mở rộng mang lại lợi ích tăng thêm bao nhiêu và mức độ rủi ro của quỹ thay đổi ra sao. Đại biểu cho rằng tiêu chí ngân hàng có chất lượng tốt, mức độ an toàn cao đúng về định hướng nhưng chưa đủ rõ để lựa chọn ngân hàng và kiểm tra quyết định đầu tư. Hơn nữa, việc một ngân hàng có vốn của doanh nghiệp nhà nước không đồng nghĩa mọi khoản tiền gửi tại ngân hàng đó đều được Nhà nước bảo đảm, đại biểu lưu ý.

Nếu tiếp tục phương án mở rộng, đại biểu đề nghị quy định giới hạn tỷ lệ tiền gửi tại từng ngân hàng và từng nhóm ngân hàng; tiêu chí theo dõi an toàn trong suốt thời hạn gửi; cách xử lý khi ngân hàng không còn đáp ứng điều kiện; thẩm quyền quyết định và trách nhiệm giải trình.

Trong khi đó, ở góc nhìn khác, đại biểu Vũ Văn Tiến (đoàn Hải Phòng) đề nghị nhìn nhận đầy đủ hơn yêu cầu an toàn và hiệu quả trong đầu tư quỹ. Theo đại biểu, “trong một thời gian dài chúng ta đã nhấn mạnh rất nhiều vào chữ ‘an toàn’ trong khi chữ ‘hiệu quả’ chưa được đặt ở vị trí tương xứng”.

Dẫn số liệu đến ngày 30/4/2026, đại biểu cho biết số dư đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã hơn 1,5 triệu tỷ đồng, trong đó hơn 82%, tương đương 1,24 triệu tỷ đồng, đầu tư vào trái phiếu chính phủ và gần 18%, khoảng 272.000 tỷ đồng, gửi tại 4 ngân hàng thương mại. Năm 2025, lãi suất đầu tư bình quân của quỹ là 3,72%, trong khi CPI bình quân tăng 3,31%. Khoảng cách 0,41 điểm phần trăm cho thấy biên lợi suất so với lạm phát là rất mỏng, đại biểu nhận xét.

Tạo cơ chế an toàn dựa trên quản trị chuyên nghiệp

Nêu quan điểm “không mất vốn trên sổ sách không đồng nghĩa là bảo toàn được giá trị thực”, đại biểu đề nghị mở rộng cách hiểu về an toàn của quỹ: bên cạnh bảo toàn vốn, phải hướng tới bảo toàn giá trị thực, duy trì khả năng thanh toán dài hạn và tạo mức tăng trưởng bền vững. Chiến lược đầu tư cần có các chỉ tiêu phản ánh lợi suất sau chi phí, lợi suất sau lạm phát và khả năng đáp ứng nghĩa vụ chi trả.

Mở rộng diện đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội: Cân bằng an toàn và hiệu quả
Đại biểu Vũ Văn Tiến (đoàn Hải Phòng) phát biểu.

Đối với tiền gửi, đại biểu đề nghị đổi mới cơ chế theo hướng cạnh tranh, minh bạch và linh hoạt về kỳ hạn, mở rộng cơ hội tham gia cho các tổ chức tín dụng đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn an toàn, nghiên cứu đấu thầu tiền gửi theo từng kỳ hạn hoặc áp dụng lãi suất cạnh tranh phù hợp với nhu cầu thu chi của từng quỹ thành phần.

Tuy nhiên, đại biểu cũng lưu ý pháp luật hiện hành đã cho phép gửi tiền tại một số ngân hàng ngoài bốn ngân hàng đang nhận tiền gửi của quỹ. Vì vậy, vấn đề không hoàn toàn nằm ở chỗ pháp luật không cho phép; một phần vấn đề nằm ở cách lựa chọn đối tác, cách tạo cạnh tranh, cách phân bổ kỳ hạn và cách quản trị danh mục.

Ngoài việc mở rộng diện ngân hàng được nhận tiền gửi, đại biểu Vũ Văn Tiến đề nghị sử dụng tốt hơn những công cụ đa dạng hóa đã được pháp luật cho phép. Trái phiếu chính phủ có thể vẫn là trụ cột vì đặc tính an toàn, song cần xem xét vì sao các công cụ khác chưa tạo được cơ cấu danh mục đa dạng hơn.

Cùng với đó, cần chuyên nghiệp hóa quản trị đầu tư, tăng cường năng lực chuyên sâu về quản trị tài sản - nợ, dự báo dòng tiền, lạm phát, lãi suất và kiểm soát rủi ro; đồng thời phải tách tương đối rõ người đề xuất đầu tư, người quyết định và người giám sát, đại biểu nhấn mạnh.

Kết luận phần phát biểu, đại biểu cho rằng lần sửa luật lần này không chỉ là bài toán lựa chọn giữa an toàn và hiệu quả đầu tư. Điều cần xem lại là cấu trúc đầu tư của quỹ khi một nguồn vốn rất lớn vẫn tập trung vào một số ít công cụ và đối tác ngân hàng.

Theo đại biểu, “sự thận trọng kéo dài quá mức có thể chuyển thành sự trì trệ và chính cơ chế bảo vệ quỹ quá nặng có thể làm giảm khả năng phát triển của quỹ”. Do vậy, luật sửa đổi cần tạo ra cơ chế an toàn cho quỹ dựa trên quản trị chuyên nghiệp với mục tiêu thận trọng nhưng không trì trệ, linh hoạt nhưng không tăng rủi ro, nâng cao hiệu quả đầu tư nhưng không đánh đổi an toàn.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Vietcombank đồng hành kiến tạo nền tảng phát triển bền vững cho thị trường vốn

Vietcombank đồng hành kiến tạo nền tảng phát triển bền vững cho thị trường vốn

(TBTCO) - Dòng vốn cho một kỷ nguyên mới không chỉ cần được khơi thông, mà cần được vận hành trên nền tảng của an toàn, minh bạch và niềm tin. Vietcombank sẵn sàng cùng ngành quản lý quỹ và thị trường vốn Việt Nam kiến tạo nền tảng ấy, hôm nay và cho những chặng đường phát triển tiếp theo.
MSB dự tính chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng huy động nghìn tỷ, lập nhiều công ty con mở rộng hệ sinh thái

MSB dự tính chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng huy động nghìn tỷ, lập nhiều công ty con mở rộng hệ sinh thái

MSB lên kế hoạch tăng vốn lần hai trong năm 2026, dự kiến chào bán 936 triệu cổ phiếu giá 10.000 đồng, huy động 9.360 tỷ đồng. Song song, ngân hàng muốn thành lập ngân hàng 100% vốn tại VIFC; mở rộng mảng chứng khoán, bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, hướng tới hoàn thiện hệ sinh thái với hoạt động ngân hàng làm nền tảng cốt lõi.
Ngân hàng Shinhan - cầu nối dòng vốn Hàn Quốc với thị trường Việt Nam

Ngân hàng Shinhan - cầu nối dòng vốn Hàn Quốc với thị trường Việt Nam

(TBTCO) - Thị trường vốn Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, được hỗ trợ bởi triển vọng nâng hạng, sự gia tăng của nhà đầu tư tổ chức và nhu cầu đa dạng hóa sản phẩm đầu tư. Việc nâng hạng không chỉ giúp cải thiện vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính quốc tế, mà còn mở ra cơ hội tiếp cận dòng vốn quy mô lớn từ các quỹ đầu tư toàn cầu.
SHB cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu

SHB cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) tiếp tục đẩy mạnh hệ sinh thái giải pháp tài chính dành cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hỗ trợ khách hàng chủ động nguồn vốn, tối ưu dòng tiền, tiết giảm chi phí giao dịch và quản trị rủi ro tỷ giá trong toàn bộ chuỗi thương mại quốc tế.
PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

(TBTCO) - PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần, cao hơn 53% thị giá PCB kết phiên ngày 28/9. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh còn nhiều áp lực, danh tính nhà đầu tư và tỷ lệ cổ phần được phân phối là những điểm đáng chú ý.
Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Chỉ trong hơn một tuần, ba ngân hàng trung ương lớn đồng loạt tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm khi nỗi lo lạm phát dai dẳng. USD mạnh lên gây áp lực tỷ giá, đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có “nối gót” xu hướng thắt chặt. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số và dư địa điều hành tỷ giá đang tạo cơ sở để duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.
Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
NL 99.99 13,300 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▼100K
Trang sức 99.9 13,560 ▼40K 14,160 ▼40K
Trang sức 99.99 13,570 ▼40K 14,170 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,395 ▲1K 14,252 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,395 ▲1K 14,253 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 139 ▼1250K 142 ▼1277K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 139 ▼1250K 1,421 ▲1279K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,365 ▲1K 141 ▼1268K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,604 ▲99K 139,604 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,111 ▲75K 105,911 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,624 ▼77548K 9,604 ▼86368K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,369 ▲61K 86,169 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,561 ▲58K 82,361 ▲58K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,153 ▲42K 58,953 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Cập nhật: 29/09/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17624 17897 18473
CAD 17771 18045 18662
CHF 30494 30870 31511
CNY 0 3832 3928
EUR 28845 29063 30139
GBP 33579 33967 34899
HKD 0 3180 3382
JPY 158 161 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14364 14952
SGD 19772 20054 20625
THB 689 752 805
USD (1,2) 25712 0 0
USD (5,10,20) 25751 0 0
USD (50,100) 25779 25793 26159
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,790 25,790 26,170
USD(1-2-5) 24,759 - -
USD(10-20) 24,759 - -
EUR 28,893 28,916 30,289
JPY 160.48 160.77 170.51
GBP 33,755 33,846 35,018
AUD 17,824 17,888 18,564
CAD 17,962 18,020 18,683
CHF 30,754 30,850 31,763
SGD 19,889 19,951 20,735
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.63 18.39 20.02
THB 737.62 746.73 799.31
NZD 14,353 14,486 14,919
SEK - 2,554 2,644
DKK - 3,875 4,012
NOK - 2,663 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,950.98 - 6,716.23
TWD 735.55 - 891.16
SAR - 6,801.44 7,164.49
KWD - 82,145 87,410
AED - 6,817 7,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 28,988 29,104 30,304
GBP 33,802 33,938 34,958
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,695 30,818 31,745
JPY 161.21 161.86 169.84
AUD 17,879 17,951 18,542
SGD 19,983 20,063 20,655
THB 754 757 794
CAD 17,992 18,064 18,651
NZD 14,464 15,004
KRW 18.30 20.28
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25785 25785 26160
AUD 17790 17890 18813
CAD 17942 18042 19057
CHF 30710 30740 32321
CNY 3814.5 3839.5 3974.6
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28989 29019 30742
GBP 33848 33898 35656
HKD 0 3315 0
JPY 161.48 161.98 172.49
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14460 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19920 20050 20781
THB 0 717.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14000000 14000000 14400000
SBJ 12000000 12000000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,678 25,798 26,170
USD20 25,648 25,798 26,170
USD1 25,628 25,798 26,170
AUD 17,867 17,967 19,075
EUR 28,865 28,965 30,621
CAD 17,909 18,009 19,313
SGD 20,010 20,160 20,715
JPY 162.14 163.64 170.27
GBP 33,789 33,939 35,286
XAU 13,898,000 0 14,202,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/09/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30