Mở rộng không gian cho doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng FDI
| Kết nối doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu Từ thu hút FDI đến kết nối doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu Thu hút FDI không phải để thay thế nội lực, mà để làm mạnh nội lực |
Thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI và nhà cung ứng nội địa
Theo ông Cha Ji Ho - Phó Tổng giám đốc phụ trách Trung tâm Mua hàng, Samsung Việt Nam, để tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp Việt vào chuỗi cung ứng, Samsung đang chuyển trọng tâm từ hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất sang phát triển sâu hơn các năng lực chuyên môn và xây dựng hệ sinh thái nhà cung ứng tại Việt Nam.
Trong giai đoạn vừa qua, Samsung đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp Việt, tập trung vào tư vấn cải tiến sản xuất, đào tạo nhân lực và phát triển các năng lực như khuôn mẫu thông minh, tự động hóa, nhà máy thông minh.
Từ năm 2015 đến nay, chương trình tư vấn đổi mới sản xuất đã hỗ trợ 379 doanh nghiệp; chương trình tư vấn nhà máy thông minh giai đoạn 2022 - 2026 có 96 doanh nghiệp tham gia. Samsung cũng đào tạo hàng trăm nhân sự chuyên trách về cải tiến sản xuất và vận hành nhà máy thông minh.
![]() |
| Ông Cha Ji Ho - Phó Tổng giám đốc phụ trách Trung tâm Mua hàng, Samsung Việt Nam. Ảnh: Đức Thanh |
Ông Cha Ji Ho cho biết, trong giai đoạn tới, Samsung định hướng mở rộng phạm vi hỗ trợ theo vùng, tăng số lượng doanh nghiệp tham gia và nâng cao chiều sâu năng lực.
Chương trình sẽ được mở rộng từ các địa bàn như Bắc Ninh, TP. Hồ Chí Minh tới Phú Thọ, Hải Phòng, Thái Nguyên, đồng thời đẩy mạnh hợp tác với các nhà cung ứng địa phương. Samsung cũng chú trọng phát triển đội ngũ nhân sự có năng lực thực tiễn tại doanh nghiệp, có khả năng tự giải quyết vấn đề, sử dụng dữ liệu và duy trì cải tiến một cách độc lập.
Đáng chú ý, Samsung đề xuất thúc đẩy hợp tác có hệ thống giữa Chính phủ, Samsung và các doanh nghiệp Việt Nam, dựa trên cơ sở dữ liệu nhà cung ứng, chính sách và khuôn khổ hỗ trợ rõ ràng.
Mục tiêu là tăng tỷ lệ nội địa hóa, mở rộng khả năng tiếp cận chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất trong nước. Samsung cũng đề xuất công bố hằng năm “Sách trắng phát triển nhà cung ứng”, qua đó tạo cơ chế hợp tác và theo dõi tiến trình phát triển chuỗi cung ứng một cách dài hạn.
Theo định hướng này, liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt không chỉ dừng ở quan hệ mua - bán, mà hướng tới cùng phát triển, xây dựng quan hệ đối tác bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của cả hệ sinh thái sản xuất tại Việt Nam.
Kiến tạo hệ sinh thái cho chương tiếp theo của tăng trưởng FDI
Theo ông Kamijo Hiroki - Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc khối FDI-TB, VPBank, chương tiếp theo của tăng trưởng FDI tại Việt Nam cần vượt lên trên lợi thế chi phí và được xây dựng trên nền tảng hệ sinh thái.
![]() |
| Ông Kamijo Hiroki - Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc khối FDI-TB, VPBank. Ảnh: Đức Thanh |
Ông Kamijo Hiroki phân tích, nếu trước đây, chi phí lao động cạnh tranh và môi trường sản xuất là những yếu tố quan trọng thu hút nhà đầu tư, thì hiện nay, các nhà đầu tư ngày càng quan tâm đến khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, nguồn vốn, nhân tài, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
Để kiến tạo hệ sinh thái này, có 5 ưu tiên cần được tập trung, gồm nội địa hóa chuỗi cung ứng; phát triển các giải pháp ngân quỹ xuyên biên giới; phát triển nhân tài đáp ứng các ngành công nghệ cao; thúc đẩy chuyển đổi xanh, ESG và tài chính bền vững; đồng thời mở rộng các cơ hội mua bán, sáp nhập và hợp tác chiến lược. Trong đó, việc nâng cao năng lực về công nghệ, quản trị, chất lượng, ESG và tài chính sẽ giúp doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo ông Kamijo Hiroki, quá trình này cần sự phối hợp của Chính phủ, doanh nghiệp Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài, hiệp hội ngành nghề, trường đại học và các tổ chức tài chính. Lộ trình gồm thống nhất các ưu tiên, kết nối các bên, huy động nguồn lực và nhân rộng những mô hình thành công. Qua đó, từng sáng kiến hợp tác có thể trở thành năng lực kinh tế rộng lớn hơn, giúp củng cố chuỗi giá trị và tạo nền tảng cho tăng trưởng FDI bền vững.
Nâng chuẩn chuỗi cung ứng
Chia sẻ từ thực tiễn của một doanh nghiệp sản xuất, bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Trưởng ban Phát triển bền vững Prime Group, thành viên Tập đoàn SCG cho biết, trong ngành vật liệu xây dựng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, mà còn gắn với chất lượng và khả năng đáp ứng của cả hệ sinh thái, từ nguyên liệu, năng lượng, công nghệ, logistics đến các nhà thầu, nhà cung cấp.
Các thị trường quốc tế ngày càng mở rộng yêu cầu từ chất lượng sản phẩm sang phát thải các-bon, nguồn gốc nguyên liệu, hiệu quả năng lượng và các tiêu chuẩn ESG. Vì vậy, nâng chuẩn chuỗi cung ứng là yêu cầu tất yếu để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị có tiêu chuẩn cao.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Trưởng ban Phát triển bền vững Prime Group, thành viên Tập đoàn SCG. Ảnh: Đức Thanh |
Từ kinh nghiệm của SCG và Prime, bà Tâm cho rằng, cần thúc đẩy tinh thần đồng hành “Go Together”, trong đó doanh nghiệp lớn không chỉ nâng tiêu chuẩn của mình, mà còn đồng hành cùng các đối tác, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, để nâng cao năng lực đáp ứng. Sự đồng hành có thể bắt đầu từ việc chia sẻ rõ các yêu cầu về chất lượng, an toàn, môi trường; chia sẻ kinh nghiệm về quản lý năng lượng, nguyên liệu, chất thải, dữ liệu; đồng thời cùng đối tác xác định những điểm cần cải thiện và từng bước nâng năng lực.
Theo bà Tâm, với các nhà cung cấp, quá trình nâng chuẩn có thể bắt đầu từ những vấn đề thiết thực như ổn định chất lượng nguyên liệu, giảm tiêu hao năng lượng và nhiên liệu, hạn chế thất thoát, tái sử dụng nước và vật liệu, chuẩn hóa các yêu cầu về an toàn, môi trường và xây dựng dữ liệu phục vụ quản lý, truy xuất.
Khi các tiêu chuẩn cao hơn giúp nhà cung cấp nâng năng suất, giảm chi phí và cải thiện hiệu quả vận hành, việc nâng chuẩn chuỗi cung ứng sẽ tạo giá trị cho cả doanh nghiệp đầu chuỗi và đối tác. Đây cũng là nền tảng để SCG tiếp tục thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, góp phần nâng sức cạnh tranh và khả năng thích ứng của chuỗi cung ứng trong nước./.




