Ngân hàng nào có điểm giao dịch nhiều nhất và có lượng khách hàng nhiều thứ nhì?

(TBTCO) - Thị trường ngân hàng đang diễn ra sôi động. Mỗi ngân hàng có những chiến lược phát triển khác nhau nhưng đều tập trung vào các hoạt động như: đẩy mạnh số hóa, mở rộng mạng lưới, đa dạng hóa sản phẩm - dịch vụ… Trong đó, nhiều ngân hàng tập trung mở rộng mạng lưới, xác định phục vụ tối đa khách hàng cũng như gia tăng độ phủ sóng thương hiệu mà vẫn đảm bảo bài toán quản lý chi phí và lợi nhuận.
aa

Trong hướng đi đó, HDBank tập trung mở rộng mọi đối tượng khách hàng trên cả nước, với 347 điểm giao dịch và gần 25.000 điểm giao dịch tài chính ở khắp mọi vùng, miền, phục vụ hơn 14 triệu lượt khách hàng tin dùng.

Tiếp tục đồng hành cùng nền kinh tế địa phương

Năm 2022, Ngân hàng Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank) vừa hoàn tất mở mới 18 điểm trên cả nước, tiếp tục nối dài sự hiện diện thương hiệu HDBank tại: Phú Quốc, Hòa Bình, Điện Biên, Lai Châu, Bạc Liêu, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Đắc Nông, Kon Tum, Lai Châu, Ninh Bình, Ninh Thuận, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Nam Định….

Riêng khu vực phía Bắc, hiện nay HDBank có tới 124 điểm giao dịch, đang phục vụ hơn 500 nghìn khách hàng. Trong đó, vùng Tây Bắc có 8 điểm giao dịch. HDBank hiện là ngân hàng có quy mô tài sản, lợi nhuận, khách hàng, mạng lưới giao dịch lớn nhất tại phía Bắc so với các ngân hàng không đặt trụ sở chính tại Hà Nội.

Ngân hàng nào có điểm giao dịch nhiều nhất và có lượng khách hàng nhiều thứ nhì?

Nhân dịp khai trương HDBank Hậu Giang (tháng 10/2022), HDBank trao tặng 2 căn nhà tình thương cho hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh.

Mạng lưới rộng lớn của HDBank đã đáp ứng kịp thời các nhu cầu giao dịch tài chính của mọi đối tượng khách hàng, kết nối các thành phần kinh tế, tạo việc làm cho nhiều người lao động, góp sức xây dựng các tỉnh, thành đổi mới, phát triển, đặc biệt ở miền núi - nông thôn và trực tiếp đóng góp vào ngân sách nhà nước tại các địa phương.

Mở rộng mạng lưới cũng là một bước đi cụ thể nhằm hiện thực hóa chiến lược phát triển nâng tầm quy mô và chất lượng hoạt động mà Hội đồng quản trị đã thông qua trong năm 2022 và giai đoạn 2021 - 2025.

Theo đó, HDBank kiên định với chiến lược bán lẻ, mà mạng lưới chi nhánh, điểm giao dịch là trọng tâm then chốt để HDBank cung cấp danh mục sản phẩm- dịch vụ tài chính ngân hàng tối ưu, hiện đại, đồng hành sát sao cùng các chính quyền, doanh nghiệp, người dân.

Phục vụ 14 triệu khách hàng và hơn nữa

Năm 2022 đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của HDBank, khi ngân hàng báo lãi cao nhất từ trước tới nay với lợi nhuận đạt trên 10 nghìn tỷ đồng; tổng tài sản vượt 416 nghìn tỷ đồng; tất cả các chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch.

Trong giai đoạn 5 năm sắp tới, HDBank sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trung bình trên 25%/năm, tiếp tục khẳng định năng lực đảm bảo hoạt động an toàn, bền vững, từ đó góp phần vào tăng trưởng kinh tế địa phương và thịnh vượng của nền kinh tế.

Kết quả tích cực này là tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm việc đa dạng hóa các kênh phân phối giúp HDBank thu hút khách hàng mới, tăng nhận diện thương hiệu. Khách hàng trên thị trường lựa chọn HDBank là điểm đến tin cậy, điểm tựa tài chính đáp ứng mọi nhu cầu giao dịch tài chính; qua đó, cải thiện hiệu suất kinh doanh đột phá. HDBank hiện đang phục vụ tới 14 triệu khách hàng với danh mục sản phẩm dịch vụ đa dạng, toàn diện và đồng bộ.

Ngân hàng nào có điểm giao dịch nhiều nhất và có lượng khách hàng nhiều thứ nhì?

Trong thời gian tới, HDBank dự kiến sẽ tiếp tục mở rộng mạng lưới, đồng thời gia tăng phát triển các dịch vụ hiện đại.

Trong thời gian tới, HDBank dự kiến sẽ tiếp tục mở rộng mạng lưới, đồng thời gia tăng phát triển các dịch vụ hiện đại, văn minh, mang đến các trải nghiệm tối ưu, nhiều lựa chọn cho khách hàng trên nền tảng số.

Bên cạnh hoạt động kinh doanh, HDBank cũng luôn đẩy mạnh các chương trình trách nhiệm cộng đồng, an sinh xã hội trên cả nước. Đến 2022, HDBank đã trao kinh phí xây dựng hơn 600 căn nhà tình thương, tình nghĩa trên khắp các tỉnh, thành. Riêng khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc, HDBank thường xuyên triển khai các chương trình thường niên trao tặng áo ấm, vật dụng thiết yếu…; tặng học bổng cho trẻ em cùng nhiều hoạt động ý nghĩa khác.

Lãnh đạo HDBank cho biết, trong giai đoạn 5 năm sắp tới, ngân hàng sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trung bình trên 25%/năm, tiếp tục khẳng định năng lực đảm bảo hoạt động an toàn, bền vững, từ đó góp phần vào tăng trưởng kinh tế địa phương và thịnh vượng của nền kinh tế. HDBank tin tưởng ở khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng cao và liên tục, khả năng phát triển doanh thu trên nền tảng kênh phân phối dày đặc, dịch vụ rộng và hoàn chỉnh, hệ thống công nghệ tiên tiến, trong thị trường ngân hàng đang bùng nổ tại Việt Nam./.

Phan Tú

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

(TBTCO) - Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.
Doanh thu phí bảo hiểm tăng hai chữ số, PJICO vẫn khó giữ đà tăng lợi nhuận

Doanh thu phí bảo hiểm tăng hai chữ số, PJICO vẫn khó giữ đà tăng lợi nhuận

Dù duy trì chia cổ tức tiền mặt nhiều năm, PJICO vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng cao hơn từ nhiều cổ đông trong bối cảnh hiệu quả kinh doanh bảo hiểm chịu sức ép. Quý I/2026, doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng mạnh 13,2% lên mức cao, song áp lực chi phí khiến lợi nhuận gộp mảng bảo hiểm đi ngang, tăng trưởng lợi nhuận chủ yếu dựa vào hoạt động tài chính.
Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng. Việc điều chỉnh này không chỉ tác động đến tiền lương, phụ cấp của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, mà còn là căn cứ để tính một số khoản đóng, mức hưởng trong chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

(TBTCO) - Trong khi nhiều quốc gia phát triển mạnh các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, đặc biệt là cho thuê tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, Việt Nam lại thiếu vắng các định chế tài chính trung gian đủ mạnh. Điều này khiến ngân hàng thương mại tiếp tục “gánh” phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành hơn 498 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thêm gần 4.982 tỷ đồng từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 77.782 tỷ đồng, tức tăng 6,8433%. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh BIDV cần củng cố hệ số CAR, đáp ứng lộ trình triển khai Basel III và tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

(TBTCO) - Khảo sát mới đây do Sun Life thực hiện cho thấy phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực chồng chéo về tài chính, sự nghiệp và sức khỏe cá nhân, xuất phát từ vai trò chăm sóc gia đình đa thế hệ, trong khi sự chuẩn bị cho các rủi ro tài chính dài hạn vẫn còn hạn chế.
Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

(TBTCO) - Chiến dịch “Chọn Xanh cho Khỏe - Vì một Việt Nam thật Khỏe” của Manulife Việt Nam vừa được vinh danh tại giải thưởng quốc tế uy tín Global CSR & ESG Awards, ở hạng mục “Doanh nghiệp có chương trình cộng đồng xuất sắc”.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
Kim TT/AVPL 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
Nguyên Liệu 99.99 14,850 ▼40K 15,050 ▼40K
Nguyên Liệu 99.9 14,800 ▼40K 15,000 ▼40K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,650 ▼40K 16,050 ▼40K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,600 ▼40K 16,000 ▼40K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,530 ▼40K 15,980 ▼40K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
Hà Nội - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
Đà Nẵng - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
Miền Tây - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
Tây Nguyên - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
Đông Nam Bộ - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
Miếng SJC Nghệ An 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
Miếng SJC Thái Bình 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
NL 99.90 14,350 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,400 ▼250K
Trang sức 99.9 15,390 ▼40K 16,090 ▼40K
Trang sức 99.99 15,400 ▼40K 16,100 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 159 ▼1435K 16,202 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 159 ▼1435K 16,203 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,585 ▼4K 1,615 ▼4K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,585 ▼4K 1,616 ▲1454K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,565 ▼4K 160 ▼1444K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,916 ▼396K 158,416 ▼396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,262 ▼300K 120,162 ▼300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,061 ▼272K 108,961 ▼272K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,886 ▼80218K 9,776 ▼88228K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,539 ▼234K 93,439 ▼234K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,977 ▼166K 66,877 ▼166K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Cập nhật: 22/05/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18276 18552 19127
CAD 18570 18847 19469
CHF 32836 33221 33875
CNY 0 3835 3927
EUR 29966 30239 31264
GBP 34574 34967 35901
HKD 0 3232 3435
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15163 15751
SGD 20065 20348 20869
THB 722 785 838
USD (1,2) 26087 0 0
USD (5,10,20) 26129 0 0
USD (50,100) 26157 26172 26390
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,160 26,160 26,390
USD(1-2-5) 25,114 - -
USD(10-20) 25,114 - -
EUR 30,177 30,201 31,461
JPY 161.6 161.89 170.66
GBP 34,855 34,949 35,943
AUD 18,517 18,584 19,176
CAD 18,813 18,873 19,457
CHF 33,174 33,277 34,061
SGD 20,246 20,309 20,981
CNY - 3,811 3,934
HKD 3,306 3,316 3,435
KRW 16.14 16.83 18.2
THB 772.01 781.54 831.92
NZD 15,177 15,318 15,680
SEK - 2,779 2,861
DKK - 4,038 4,156
NOK - 2,808 2,895
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,233.91 - 7,000.51
TWD 757.21 - 912.02
SAR - 6,923.83 7,250.88
KWD - 83,840 88,689
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,140 26,160 26,390
EUR 30,040 30,161 31,339
GBP 34,752 34,892 35,898
HKD 3,294 3,307 3,423
CHF 32,907 33,039 33,969
JPY 161.74 162.39 169.71
AUD 18,464 18,538 19,127
SGD 20,259 20,340 20,921
THB 788 791 825
CAD 18,770 18,845 19,414
NZD 15,228 15,761
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26145 26145 26390
AUD 18457 18557 19482
CAD 18754 18854 19868
CHF 33074 33104 34678
CNY 3813.8 3838.8 3974.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30135 30165 31891
GBP 34869 34919 36672
HKD 0 3355 0
JPY 162.08 162.58 173.13
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15269 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20216 20346 21074
THB 0 751.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15940000 15940000 16240000
SBJ 14000000 14000000 16240000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,170 26,220 26,390
USD20 26,170 26,220 26,390
USD1 23,878 26,220 26,390
AUD 18,507 18,607 19,724
EUR 30,291 30,291 31,720
CAD 18,705 18,805 20,125
SGD 20,299 20,449 21,420
JPY 162.56 164.06 168.69
GBP 34,764 35,114 36,250
XAU 15,948,000 0 16,242,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/05/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80