Thị trường tiền tệ tuần 28/10 - 1/11:

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng tiếp tục neo ở mức cao kỷ lục

Hồng Quyên
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần này là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bơm ròng trở lại để hỗ trợ thanh khoản hệ thống trong bối cảnh cầu tín dụng tăng mạnh về cuối năm. Trong khi đó, giá vàng nhẫn tiếp tục leo ở mức cao, còn tỷ giá lại có một tuần “hạ nhiệt” trở lại sau tuần tăng mạnh trước đó.
aa
Ngân hàng nhà nước “để ngỏ” câu chuyện lãi suất, giá vàng nhẫn lại lập đỉnh mới Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh cường độ hút ròng, giá vàng lại tăng “nóng”, thiết lập kỷ lục mới

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại

Trong tuần này, NHNN đã có 2 phiên bơm ròng liên tiếp (28, 29/10) thông qua thị trường mở với quy mô mỗi phiên từ 8.300 đến 9.200 tỷ đồng. Sau hơn 1 tuần NHNN phát hành tín phiếu để hút VND; đồng thời nhà điều hành phát đi thông điệp sẽ thực hiện phương án can thiệp bán ngoại tệ nếu cần thiết từ ngày 25/10, tỷ giá liên ngân hàng đã giảm. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá dịu dần, NHNN đã có 2 phiên bơm ròng thông qua thị trường mở trong tuần này (28/10 - 1/11).

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng tiếp tục neo ở mức cao kỷ lục
Tỷ giá “hạ nhiệt” Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại. Ảnh: T.L
Sau khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng, đến ngày 29/10, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND qua đêm (kỳ hạn chủ chốt) đã tăng mạnh lên 4,64%/năm. Chênh lệch với lãi suất USD thu hẹp xuống chỉ còn 19 điểm cơ bản (lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD kỳ hạn qua đêm là 4,83%).

Cụ thể, phiên 28/10, trên kênh cầm cố, NHNN chào thầu 10.000 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất ở mức 4%/năm và kết quả có 10.000 tỷ đồng trúng thầu. Phiên này, qua kênh tín phiếu, NHNN trúng thầu 600 tỷ đồng ở kỳ hạn 14 ngày, lãi suất giữ ở mức 3,7%; và 200 tỷ đồng ở kỳ hạn 28 ngày, lãi suất 3,99%. Như vậy, phiên 28/10, NHNN bơm ròng 9.200 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở.

Tiếp đó, phiên ngày 29/10, NHNN tăng khối lượng chào thầu trên kênh cầm cố thêm 5.000 tỷ đồng so với 28/10. Cụ thể, NHNN chào thầu 15.000 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất ở mức 4% và kết quả có 14.999,91 tỷ đồng trúng thầu. Đồng thời, phiên này, qua kênh tín phiếu NHNN trúng thầu 2.400 tỷ đồng ở kỳ hạn 14 ngày, lãi suất giữ ở mức 3,7%; và 1.200 tỷ đồng ở kỳ hạn 28 ngày, lãi suất 3,99%. Như vậy, NHNN bơm ròng 11.399,91 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở.

Giá vàng neo cao kỷ lục

Thị trường vàng thế giới có diễn biến rất sôi động trong tuần qua. Theo đó, giá vàng vẫn tiếp tục gia tăng sức nóng trong phiên ngày 30/10 khi vượt hơn 2.800 USD/ounce, sau đó giảm nhẹ vào cuối tuần và giữ mức 2.746,91 USD/ounce.

Trong khi đó, tại thị trường trong nước, giá vàng SJC không biến động mạnh, song vẫn tiếp tục tăng giá. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 1/11 giữ ở mức 90 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 87,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, tăng 1 triệu đồng/ lượng so với tuần trước đó.

Giá vàng ngày 1/11 tại các ngân hàng Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và các công ty vàng bạc đá quý bán ra ở mức 90 triệu đồng/lượng. Ở chiều mua, giá vàng các thương hiệu được niêm yết ở mức 87,5 triệu đồng/lượng.

Như vậy, giá vàng SJC bán ra trong nước chỉ còn cách mức đỉnh từng thiết lập ngày 10/5/2024 (92,4 triệu đồng/lượng) là 2,4 triệu đồng/lượng, khi NHNN can thiệp nhiều biện pháp làm giảm sức nóng của giá vàng.

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng tiếp tục neo ở mức cao kỷ lục
Giá vàng neo cao kỷ lục. Ảnh: T.L

Từ đầu năm đến nay, mức giá tăng lịch sử của kim loại quý lên tới 35% nhờ sự kết hợp của nhiều yếu tố, từ xung đột chính trị địa chính trị, hạ lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), nhu cầu mạnh mẽ từ các ngân hàng trung ương toàn cầu và sự không chắc chắn về kết quả của cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ sẽ diễn ra vào ngày 5/11 tới đây, cùng khả năng có thêm nhiều biện pháp kích thích tài khóa là những yếu tố chính thúc đẩy giá vàng tăng cao.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục bùng nổ vượt mốc 89 triệu đồng/lượng – thiết lập kỷ lục mới. Tại thời điểm đầu giờ chiều ngày 1/11, tại DOIJ giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 89,1 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 88,1 triệu đồng/lượng. Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 87,8 – 89,5 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra.

Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 88,18 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 89,18 triệu đồng/lượng. Như vậy, so với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã tăng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng, tuy nhiên vẫn là mức giá cao kỷ lục.

Tỷ giá “ngắt mạch” tăng

Tỷ giá trung tâm đã ngắt mạch tăng sau 8 phiên trước đó nhờ các biện pháp can thiệp của NHNN. Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 28/10 ghi nhận ở mức 24.255 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh giảm nhẹ hoặc giữ nguyên liên tục tại tất cả các ngày của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.243 đồng/USD, giảm 12 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Tỷ giá có dấu hiệu hạ nhiệt sau hơn 1 tuần NHNN phát hành tín phiếu để hút VND; đồng thời nhà điều hành phát đi thông điệp sẽ thực hiện phương án can thiệp bán ngoại tệ nếu cần thiết.

Tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.467 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục giảm nhẹ tỷ giá bán ra vào hôm thứ Ba, rồi giữ nguyên hôm thứ Tư, sau đó giảm nhẹ trong những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.450 đồng/USD, giảm 17 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Báo cáo mới đây của Công ty cổ phần Chứng khoán KIS Việt Nam cho rằng, xu hướng tăng của tỷ giá USD/VND hiện tại có thể chỉ mang tính tạm thời, và tỷ giá sẽ điều chỉnh trở lại trong các tháng cuối năm. Cuối năm thường là mùa lễ hội ở châu Âu và Mỹ, nhu cầu tiêu dùng tăng cao.

Để đáp ứng nhu cầu này, các doanh nghiệp xuất khẩu thường mua nguyên liệu sản xuất từ 3-6 tháng trước đó, tạo nên nhu cầu cao về USD trong quý III. Tuy nhiên, khi các đơn hàng được xuất đi, các doanh nghiệp sẽ nhận được các khoản thanh toán (bằng USD) thường vào cuối năm, giúp nguồn cung USD dồi dào hơn và làm giảm nhiệt tỷ giá.

Thêm vào đó, dòng tiền bằng USD vào Việt Nam có xu hướng tăng trong các tháng cuối năm. Bên cạnh đó, Tết năm 2025 sẽ đến sớm, vào cuối tháng 1/2025, nên lượng kiều hối có thể gia tăng trước Tết khoảng 1 - 2 tháng, giai đoạn cuối năm 2024. Các dòng vốn này tạo ra nguồn cung USD, giúp hạ nhiệt đà tăng của tỷ giá trong các tháng cuối năm./.

Chỉ số DXY có xu giảm nhẹ

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu hướng giảm nhẹ tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 1/11 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 103,97 điểm, giảm nhẹ so mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Hồng Quyên

Đọc thêm

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

(TBTCO) - Bên cạnh lãi suất, sự thuận tiện, người gửi tiền cũng cần biết khoản tiền của mình được bảo vệ như thế nào. Hiểu đúng về chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) giúp mỗi người nắm rõ quyền lợi của mình và chủ động hơn khi lựa chọn nơi gửi tiền.
Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Theo ghi nhận của TCBS Research, tiền gửi khách hàng co xuống 59,8% tổng nguồn vốn, tăng 5,5%, thấp hơn mức 9% của tín dụng. Phần thiếu hụt được bù bằng vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá, nhạy hơn với lãi suất ngắn hạn. Trong đó, giấy tờ có giá là nguồn vốn đắt nhất, khiến chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo ở mức cao.
Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tăng khoảng 1,9% từ đầu năm, neo vùng đỉnh lịch sử, trong khi USD ngân hàng và tự do hạ nhiệt giữa bối cảnh nhập siêu gia tăng. Số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) cho thấy, FDI và các dòng ngoại tệ khác vẫn tạo "bộ đệm", giảm áp lực lên tỷ giá, dù nguồn ngoại tệ từ thương mại suy yếu.
Mạnh tay xử lý vi phạm trong thực thi bảo hiểm xã hội

Mạnh tay xử lý vi phạm trong thực thi bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - 8 tháng năm 2026, cơ quan Bảo hiểm xã hội đã truy thu, thu hồi hàng trăm tỷ đồng qua công tác kiểm tra chuyên ngành; đồng thời phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân và các cơ quan liên quan xử lý chậm đóng, trốn đóng, tạo thêm cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi người lao động.
Lợi nhuận "chạy trước" đà hồi phục doanh thu phí, có doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ báo lãi gấp 10 lần

Lợi nhuận "chạy trước" đà hồi phục doanh thu phí, có doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ báo lãi gấp 10 lần

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ bứt tốc mạnh, có doanh nghiệp tăng trưởng lợi nhuận gấp hơn 10 lần cùng kỳ. Ở mảng kinh doanh cốt lõi, những “điểm sáng” phục hồi dần xuất hiện.
Phân làn tín dụng bất động sản, “van” cho vay được mở chọn lọc

Phân làn tín dụng bất động sản, “van” cho vay được mở chọn lọc

(TBTCO) - Dòng vốn tín dụng chảy vào bất động sản đang phân hóa rõ nét, có ngân hàng tăng dư nợ trên 50%, song cũng không ít ngân hàng chủ động thu hẹp dư nợ để kiểm soát rủi ro. "Van" tín dụng đang được điều tiết có chọn lọc, với hàng chục nghìn tỷ đồng hướng vào cho vay mua, thuê nhà và các phân khúc ưu tiên.
Chủ động gia hạn, kiểm tra thông tin đóng bảo hiểm y tế để bảo đảm quyền lợi liên tục

Chủ động gia hạn, kiểm tra thông tin đóng bảo hiểm y tế để bảo đảm quyền lợi liên tục

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị người thuộc nhóm tự đóng bảo hiểm y tế gia hạn trước khi thẻ hết giá trị sử dụng và chủ động kiểm tra thông tin sau khi đóng tiền để đảm bảo quyền lợi tham gia liên tục.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 ▲60K 14,600 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,300 ▲60K 14,600 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,300 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲60K 14,650 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲60K 14,650 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲60K 14,650 ▲60K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 ▲60K 14,560 ▲60K
Trang sức 99.99 13,970 ▲60K 14,570 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 ▼1281K 14,602 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 ▼1281K 14,603 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 ▲6K 1,456 ▲1311K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 ▼1254K 1,445 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 ▲594K 143,069 ▲594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 ▲450K 108,536 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 ▼79350K 9,842 ▼88170K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 ▲366K 88,304 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 ▲350K 84,402 ▲350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 ▲251K 60,413 ▲251K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Cập nhật: 12/09/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,680 25,730 26,130
USD20 25,650 25,730 26,130
USD1 24,317 25,730 26,875
AUD 18,210 18,360 19,499
EUR 29,341 29,491 31,193
CAD 18,254 18,404 19,735
SGD 20,079 20,279 20,862
JPY 164.99 166.49 172.3
GBP 34,333 34,533 35,640
XAU 14,238,000 0 14,542,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/09/2026 21:00
Ngân hàng