Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/10:

Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh cường độ hút ròng, giá vàng lại tăng “nóng”, thiết lập kỷ lục mới

Hồng Quyên
(TBTCO) - Sau gần 2 tháng “đóng băng” việc hút ròng thanh khoản hệ thống thông qua kênh phát hành tín phiếu, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã quay lại với nghiệp vụ này giữa bối cảnh áp lực tỷ giá USD/VND có dấu hiệu tăng trở lại. Trong khi đó, thị trường vàng cả trong và ngoài nước cũng ghi nhận bầu không khí sôi động, đặc biệt thị trường trong nước chứng kiến sự tăng “nóng” của vàng nhẫn.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 29/7 – 2/8: Nhiều ngân hàng báo lãi kỷ lục, tỷ giá giảm mạnh vào cuối tuần Thị trường tiền tệ tuần 7-11/10: Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, tỷ giá nhích tăng, giá vàng nhẫn giảm sức “nóng”

Ngân hàng Nhà nước phát hành tín phiếu hút tiền về

Trước áp lực tỷ giá gia tăng, từ cuối tuần trước NHNN đã thực hiện phát hành tín phiếu hút tiền về điều chỉnh thanh khoản hệ thống trong ngắn hạn, đẩy mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tăng, giảm mức chênh lệch lãi suất giữa đồng USD và VND, gián tiếp hỗ trợ tỷ giá.

Cụ thể, ngày 21/10, NHNN bán ra 21.650 tỷ đồng, với 3.900 tỷ đồng tín phiếu kỳ hạn 14 ngày và 17.750 tỷ đồng tín phiếu kỳ hạn 28 ngày. Lãi suất tín phiếu ghi nhận ở mức 3,74% với kỳ hạn 14 ngày và 4% với kỳ hạn 28 ngày.

Tiếp đó, phiên ngày 22/10, NHNN đã phát hành lô tín phiếu với tổng khối lượng 12.450 tỷ đồng. Trong đó, kỳ hạn 14 ngày đạt 3.600 tỷ đồng với lãi suất trúng thầu 3,7%/năm và kỳ hạn 28 ngày đạt 8.850 tỷ đồng với lãi suất trúng thầu 4%/năm.

Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh cường độ hút ròng, giá vàng lại tăng “nóng”, thiết lập kỷ lục mới
Ngân hàng Nhà nước tăng mạnh quy mô hút tiền. Ảnh: T.L
Sau những phiên liên tiếp chào thầu tín phiếu, lãi suất liên ngân hàng đã tăng nhanh trở lại. Đến ngày 23/10, lãi suất liên ngân hàng VND kỳ hạn qua đêm giao dịch ở mức 3,83%, tăng 1,1% so với phiên cuối tuần trước; kỳ hạn 1 tuần lãi suất giao dịch ở mức 3,99%, tăng 1,03%; 2 tuần giao dịch ở mức 4,14%, tăng 0,9% và 1 tháng ở mức 4,26%, tăng 0,59% so với cuối tuần trước.

Phiên ngày 23/10, NHNN tiếp tục phát hành lô tín phiếu với tổng khối lượng 12.800 tỷ đồng. Trong đó, kỳ hạn 14 ngày đạt 3.300 tỷ đồng với lãi suất trúng thầu 3,7%/năm, có 4/4 thành viên tham gia trúng thầu và kỳ hạn 28 ngày đạt 9.500 tỷ đồng với lãi suất trúng thầu 4%/năm, có 7/7 thành viên tham gia trúng thầu.

Trong các phiên cuối tuần ngày 24 và 25/10, NHNN tiếp tục phát hành lô tín phiếu với tổng khối lượng thấp hơn những phiên đầu tuần. Theo đó, trong hai ngày 24 và 25/10, NHNN đã phát hành lô tín phiếu với tổng khối lượng 7.750 tỷ đồng.

NHNN cho biết sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt, kịp thời, đồng bộ với chính sách tài khoá và các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Mục tiêu là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối. NHNN điều hành nghiệp vụ thị trường mở chủ động, linh hoạt để duy trì thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, điều chỉnh lãi suất phù hợp với mục tiêu chính sách và khuyến khích các tổ chức tín dụng giảm chi phí, từ đó giảm lãi suất cho vay; điều hành tỷ giá linh hoạt nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Giá vàng “nổi sóng” thiết lập kỷ lục mới

Thị trường vàng tuần qua diễn biến rất sôi động. Trên thế giới, giá vàng vẫn tiếp tục gia tăng sức nóng, trong phiên cuối tuần ngày 25/10, kim loại quý tăng mạnh chạm mức 2.736,3 USD/ounce. Giá vàng thế giới tăng mạnh do nhu cầu trú ẩn an toàn cao trước những bất ổn địa chính trị dai dẳng.

Tại thị trường trong nước, giá vàng SJC cũng có những phiên biến động mạnh, giá vàng miếng SJC trong nước ngày 21/10 tăng thêm 2 triệu đồng/lượng, lên mức 88 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 86 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào. Sau đó, ngày 22/10 giá vàng miếng tiếp tục tăng thêm 1 triệu đồng/lượng và giữ giá đi ngang trong phiên giao dịch cuối tuần.

Chốt tuần, vàng miếng SJC tăng 3 triệu đồng/ lượng so với tuần trước đó. Giá vàng ngày 25/10 tại các ngân hàng Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và các công ty vàng bạc đá quý bán ra ở mức 89 triệu đồng/lượng. Ở chiều mua, giá vàng các thương hiệu được niêm yết ở mức 87 triệu đồng/lượng. Với mốc giá trên, vàng miếng SJC đang cao hơn thế giới 4,3 triệu đồng/lượng.

Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh cường độ hút ròng, giá vàng lại tăng “nóng”, thiết lập kỷ lục mới
Giá vàng nhẫn “nổi sóng” sát mốc 89 triệu đồng/lượng – thiết lập kỷ lục mới. Ảnh: T.L

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn lại có thêm một tuần “nổi sóng” sát mốc 89 triệu đồng/lượng – thiết lập kỷ lục mới. Tại thời điểm đầu giờ chiều ngày 25/10, tại DOIJ giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 87,9 triệu đồng/lượng trong khi bán ra tại 88,9 triệu đồng/lượng. Tại Công ty Phú Quý niêm yết giá vàng nhẫn lên mức 87,9 - 89 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Bảo Tín Minh Châu giá vàng nhẫn ở mức 87,88 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 88,98 triệu đồng/lượng. Như vậy, so với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã tăng mạnh hơn 3 triệu đồng/lượng.

Thời gian gần đây, thị trường ghi nhận sự thu hút của vàng nhẫn khi loại vàng này liên tục tăng mạnh và tăng nhanh hơn so với vàng miếng. Giá vàng miếng và vàng nhẫn lần đầu tiên trong lịch sử ngang bằng nhau. Trước đó, giá vàng nhẫn thấp hơn khá nhiều so với mức chênh lệch có lúc lên tới 14 – 15 triệu đồng mỗi lượng trong giai đoạn năm 2023 và đầu năm 2024.

Tỷ giá lại “nóng” lên

Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 21/10 ghi nhận ở mức 24.213 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh tăng liên tục tại tất cả các ngày của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.260 đồng/USD, tăng 47 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Đây là phiên thứ 9 liên tiếp tỷ giá trung tâm được điều chỉnh tăng. Như vậy, tỷ giá trung tâm theo công bố của NHNN đã liên tục tăng từ đầu tháng 10 đến nay.

Tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng liên tục tăng mạnh. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.340 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục tăng mạnh tỷ giá bán ra trong những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.473 đồng/USD, tăng 133 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Như vậy, so với đầu tháng 10, giá USD mua vào tăng hơn 840 đồng/USD, còn giá bán tăng khoảng từ 633 - 743 đồng/USD./.

Theo giới phân tích, tỷ giá trong nước chịu áp lực do đồng USD mạnh lên đáng kể. Đồng bạc xanh đã tăng trong 3 tuần liên tiếp, tăng 2,4% từ đầu tháng 10, vượt 104 điểm khi một loạt dữ liệu kinh tế tích cực khiến các nhà đầu tư giảm bớt kỳ vọng về quy mô lẫn tốc độ hạ lãi suất từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Trong khi đó, tại Việt Nam, trong những thời điểm tháng 10 hàng năm, nhu cầu mua USD để nhập khẩu phục vụ nhu cầu xuất khẩu cuối năm cho dịp lễ Noel và năm mới của phương tây. Do vậy, tỷ giá tháng 10 thường tăng cao.
Hồng Quyên

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (28/3): DXY vượt 100 điểm, tỷ giá USD tự do tăng vọt áp sát 28.000 đồng

Tỷ giá USD hôm nay (28/3): DXY vượt 100 điểm, tỷ giá USD tự do tăng vọt áp sát 28.000 đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 28/3, theo cập nhật mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng phiên cuối tuần xuống 25.100 VND/USD, trong khi DXY tăng 0,26% lên 100,2 điểm. Ngược lại, tỷ giá USD tự do tăng mạnh 100 đồng, sát ngưỡng 28.000 đồng, phản ánh áp lực tỷ giá gia tăng trong bối cảnh USD tiếp tục mạnh lên toàn cầu.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Kim TT/AVPL 16,980 ▲110K 17,280 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Nguyên Liệu 99.99 16,000 ▲100K 16,200 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 15,950 ▲100K 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 ▲100K 17,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 ▲100K 17,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 ▲100K 17,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
NL 99.90 15,820 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▲50K
Trang sức 99.9 16,470 ▲120K 17,170 ▲120K
Trang sức 99.99 16,480 ▲120K 17,180 ▲120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,698 ▲12K 17,282 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,698 ▲12K 17,283 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 ▲12K 1,726 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 ▲12K 1,727 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 ▲12K 1,711 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 ▲1188K 169,406 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 ▲900K 128,488 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 ▼96033K 11,651 ▼104043K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 ▲732K 104,531 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 ▲699K 99,911 ▲699K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 ▲501K 71,506 ▲501K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Cập nhật: 28/03/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/03/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80