Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/10:

Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh cường độ hút ròng, giá vàng lại tăng “nóng”, thiết lập kỷ lục mới

Hồng Quyên
(TBTCO) - Sau gần 2 tháng “đóng băng” việc hút ròng thanh khoản hệ thống thông qua kênh phát hành tín phiếu, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã quay lại với nghiệp vụ này giữa bối cảnh áp lực tỷ giá USD/VND có dấu hiệu tăng trở lại. Trong khi đó, thị trường vàng cả trong và ngoài nước cũng ghi nhận bầu không khí sôi động, đặc biệt thị trường trong nước chứng kiến sự tăng “nóng” của vàng nhẫn.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 29/7 – 2/8: Nhiều ngân hàng báo lãi kỷ lục, tỷ giá giảm mạnh vào cuối tuần Thị trường tiền tệ tuần 7-11/10: Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, tỷ giá nhích tăng, giá vàng nhẫn giảm sức “nóng”

Ngân hàng Nhà nước phát hành tín phiếu hút tiền về

Trước áp lực tỷ giá gia tăng, từ cuối tuần trước NHNN đã thực hiện phát hành tín phiếu hút tiền về điều chỉnh thanh khoản hệ thống trong ngắn hạn, đẩy mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tăng, giảm mức chênh lệch lãi suất giữa đồng USD và VND, gián tiếp hỗ trợ tỷ giá.

Cụ thể, ngày 21/10, NHNN bán ra 21.650 tỷ đồng, với 3.900 tỷ đồng tín phiếu kỳ hạn 14 ngày và 17.750 tỷ đồng tín phiếu kỳ hạn 28 ngày. Lãi suất tín phiếu ghi nhận ở mức 3,74% với kỳ hạn 14 ngày và 4% với kỳ hạn 28 ngày.

Tiếp đó, phiên ngày 22/10, NHNN đã phát hành lô tín phiếu với tổng khối lượng 12.450 tỷ đồng. Trong đó, kỳ hạn 14 ngày đạt 3.600 tỷ đồng với lãi suất trúng thầu 3,7%/năm và kỳ hạn 28 ngày đạt 8.850 tỷ đồng với lãi suất trúng thầu 4%/năm.

Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh cường độ hút ròng, giá vàng lại tăng “nóng”, thiết lập kỷ lục mới
Ngân hàng Nhà nước tăng mạnh quy mô hút tiền. Ảnh: T.L
Sau những phiên liên tiếp chào thầu tín phiếu, lãi suất liên ngân hàng đã tăng nhanh trở lại. Đến ngày 23/10, lãi suất liên ngân hàng VND kỳ hạn qua đêm giao dịch ở mức 3,83%, tăng 1,1% so với phiên cuối tuần trước; kỳ hạn 1 tuần lãi suất giao dịch ở mức 3,99%, tăng 1,03%; 2 tuần giao dịch ở mức 4,14%, tăng 0,9% và 1 tháng ở mức 4,26%, tăng 0,59% so với cuối tuần trước.

Phiên ngày 23/10, NHNN tiếp tục phát hành lô tín phiếu với tổng khối lượng 12.800 tỷ đồng. Trong đó, kỳ hạn 14 ngày đạt 3.300 tỷ đồng với lãi suất trúng thầu 3,7%/năm, có 4/4 thành viên tham gia trúng thầu và kỳ hạn 28 ngày đạt 9.500 tỷ đồng với lãi suất trúng thầu 4%/năm, có 7/7 thành viên tham gia trúng thầu.

Trong các phiên cuối tuần ngày 24 và 25/10, NHNN tiếp tục phát hành lô tín phiếu với tổng khối lượng thấp hơn những phiên đầu tuần. Theo đó, trong hai ngày 24 và 25/10, NHNN đã phát hành lô tín phiếu với tổng khối lượng 7.750 tỷ đồng.

NHNN cho biết sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt, kịp thời, đồng bộ với chính sách tài khoá và các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Mục tiêu là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối. NHNN điều hành nghiệp vụ thị trường mở chủ động, linh hoạt để duy trì thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, điều chỉnh lãi suất phù hợp với mục tiêu chính sách và khuyến khích các tổ chức tín dụng giảm chi phí, từ đó giảm lãi suất cho vay; điều hành tỷ giá linh hoạt nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Giá vàng “nổi sóng” thiết lập kỷ lục mới

Thị trường vàng tuần qua diễn biến rất sôi động. Trên thế giới, giá vàng vẫn tiếp tục gia tăng sức nóng, trong phiên cuối tuần ngày 25/10, kim loại quý tăng mạnh chạm mức 2.736,3 USD/ounce. Giá vàng thế giới tăng mạnh do nhu cầu trú ẩn an toàn cao trước những bất ổn địa chính trị dai dẳng.

Tại thị trường trong nước, giá vàng SJC cũng có những phiên biến động mạnh, giá vàng miếng SJC trong nước ngày 21/10 tăng thêm 2 triệu đồng/lượng, lên mức 88 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 86 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào. Sau đó, ngày 22/10 giá vàng miếng tiếp tục tăng thêm 1 triệu đồng/lượng và giữ giá đi ngang trong phiên giao dịch cuối tuần.

Chốt tuần, vàng miếng SJC tăng 3 triệu đồng/ lượng so với tuần trước đó. Giá vàng ngày 25/10 tại các ngân hàng Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và các công ty vàng bạc đá quý bán ra ở mức 89 triệu đồng/lượng. Ở chiều mua, giá vàng các thương hiệu được niêm yết ở mức 87 triệu đồng/lượng. Với mốc giá trên, vàng miếng SJC đang cao hơn thế giới 4,3 triệu đồng/lượng.

Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh cường độ hút ròng, giá vàng lại tăng “nóng”, thiết lập kỷ lục mới
Giá vàng nhẫn “nổi sóng” sát mốc 89 triệu đồng/lượng – thiết lập kỷ lục mới. Ảnh: T.L

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn lại có thêm một tuần “nổi sóng” sát mốc 89 triệu đồng/lượng – thiết lập kỷ lục mới. Tại thời điểm đầu giờ chiều ngày 25/10, tại DOIJ giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 87,9 triệu đồng/lượng trong khi bán ra tại 88,9 triệu đồng/lượng. Tại Công ty Phú Quý niêm yết giá vàng nhẫn lên mức 87,9 - 89 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Bảo Tín Minh Châu giá vàng nhẫn ở mức 87,88 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 88,98 triệu đồng/lượng. Như vậy, so với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã tăng mạnh hơn 3 triệu đồng/lượng.

Thời gian gần đây, thị trường ghi nhận sự thu hút của vàng nhẫn khi loại vàng này liên tục tăng mạnh và tăng nhanh hơn so với vàng miếng. Giá vàng miếng và vàng nhẫn lần đầu tiên trong lịch sử ngang bằng nhau. Trước đó, giá vàng nhẫn thấp hơn khá nhiều so với mức chênh lệch có lúc lên tới 14 – 15 triệu đồng mỗi lượng trong giai đoạn năm 2023 và đầu năm 2024.

Tỷ giá lại “nóng” lên

Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 21/10 ghi nhận ở mức 24.213 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh tăng liên tục tại tất cả các ngày của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.260 đồng/USD, tăng 47 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Đây là phiên thứ 9 liên tiếp tỷ giá trung tâm được điều chỉnh tăng. Như vậy, tỷ giá trung tâm theo công bố của NHNN đã liên tục tăng từ đầu tháng 10 đến nay.

Tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng liên tục tăng mạnh. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.340 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục tăng mạnh tỷ giá bán ra trong những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.473 đồng/USD, tăng 133 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Như vậy, so với đầu tháng 10, giá USD mua vào tăng hơn 840 đồng/USD, còn giá bán tăng khoảng từ 633 - 743 đồng/USD./.

Theo giới phân tích, tỷ giá trong nước chịu áp lực do đồng USD mạnh lên đáng kể. Đồng bạc xanh đã tăng trong 3 tuần liên tiếp, tăng 2,4% từ đầu tháng 10, vượt 104 điểm khi một loạt dữ liệu kinh tế tích cực khiến các nhà đầu tư giảm bớt kỳ vọng về quy mô lẫn tốc độ hạ lãi suất từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Trong khi đó, tại Việt Nam, trong những thời điểm tháng 10 hàng năm, nhu cầu mua USD để nhập khẩu phục vụ nhu cầu xuất khẩu cuối năm cho dịp lễ Noel và năm mới của phương tây. Do vậy, tỷ giá tháng 10 thường tăng cao.
Hồng Quyên

Đọc thêm

Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

(TBTCO) - Tín dụng tăng nhanh hơn huy động, nới khoảng cách lên 2,8 triệu tỷ đồng, gia tăng nhiều sức ép. Trong khi nợ xấu gây “kẹt” dòng tiền quay vòng, các ngân hàng tìm cách đa dạng nguồn vốn, còn nhà điều hành dùng nhiều công cụ “nới” không gian thanh khoản, đáp ứng nhu cầu tín dụng tăng cao cuối năm.
Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

(TBTCO) - Dư nợ nhóm ngân hàng niêm yết tăng 8,9% nửa đầu năm, trong đó, cho vay trung, dài hạn tăng cao hơn, đẩy tỷ trọng chiếm 47,3% tổng dư nợ. Xu hướng kéo dài kỳ hạn cho vay được kỳ vọng hỗ trợ NIM, khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được nới lên 40%, song lợi ích trước mắt cũng đặt áp lực lớn hơn lên cân đối nguồn vốn.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (31/8): Tỷ giá trong nước đi ngang dịp nghỉ lễ, DXY giữ nhịp nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (31/8): Tỷ giá trong nước đi ngang dịp nghỉ lễ, DXY giữ nhịp nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/8, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.610 đồng/USD trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh, trong khi chỉ số DXY quanh 99,6 điểm. Đồng USD được hỗ trợ khi kỳ vọng Fed nâng lãi suất trong tháng 9 gia tăng, rủi ro lạm phát còn hiện hữu và căng thẳng Mỹ - Iran leo thang, sau khi Mỹ tấn công các vị trí quân sự của Iran lần đầu tiên trong hơn một tháng.
Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 31/8 tăng nhẹ lên 4.459 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước nhìn chung ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 ▼1700K 147,300 ▼1400K
Hà Nội - PNJ 144,000 ▼1700K 147,300 ▼1400K
Đà Nẵng - PNJ 144,000 ▼1700K 147,300 ▼1400K
Miền Tây - PNJ 144,000 ▼1700K 147,300 ▼1400K
Tây Nguyên - PNJ 144,000 ▼1700K 147,300 ▼1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 ▼1700K 147,300 ▼1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,440 ▼130K 14,740 ▼130K
Miếng SJC Nghệ An 14,440 ▼130K 14,740 ▼130K
Miếng SJC Thái Bình 14,440 ▼130K 14,740 ▼130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,440 ▼90K 14,790 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,440 ▼90K 14,790 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,440 ▼90K 14,790 ▼80K
NL 99.99 13,600 ▼200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▼200K
Trang sức 99.9 14,100 ▼80K 14,700 ▼80K
Trang sức 99.99 14,110 ▼80K 14,710 ▼80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,444 ▼13K 1,474 ▼13K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,444 ▼13K 14,742 ▼130K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,444 ▼13K 14,743 ▼130K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 ▼13K 1,469 ▼13K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 ▼13K 147 ▼1336K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,414 ▼13K 1,459 ▼13K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,455 ▼1288K 144,455 ▼1288K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,786 ▼975K 109,586 ▼975K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,572 ▼884K 99,372 ▼884K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,358 ▼793K 89,158 ▼793K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,418 ▼758K 85,218 ▼758K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,196 ▼543K 60,996 ▼543K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,444 ▼13K 1,474 ▼13K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,444 ▼13K 1,474 ▼13K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,444 ▼13K 1,474 ▼13K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,444 ▼13K 1,474 ▼13K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,444 ▼13K 1,474 ▼13K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,444 ▼13K 1,474 ▼13K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,444 ▼13K 1,474 ▼13K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,444 ▼13K 1,474 ▼13K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,444 ▼13K 1,474 ▼13K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,444 ▼13K 1,474 ▼13K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,444 ▼13K 1,474 ▼13K
Cập nhật: 03/09/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18162 18438 19012
CAD 18336 18612 19226
CHF 31481 31861 32506
CNY 0 3842 3938
EUR 29617 29838 30918
GBP 34397 34789 35723
HKD 0 3197 3399
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14977 15565
SGD 20008 20290 20858
THB 705 768 822
USD (1,2) 25835 0 0
USD (5,10,20) 25875 0 0
USD (50,100) 25903 25917 26284
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,629 29,653 31,059
JPY 159.93 160.22 169.93
GBP 34,538 34,632 35,832
AUD 18,341 18,407 19,102
CAD 18,490 18,549 19,235
CHF 31,686 31,785 32,728
SGD 20,096 20,158 20,948
CNY - 3,807 3,952
HKD 3,258 3,268 3,406
KRW 17.7 18.46 20.08
THB 749.86 759.12 812.77
NZD 14,941 15,080 15,527
SEK - 2,662 2,756
DKK - 3,974 4,114
NOK - 2,751 2,849
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,035.43 - 6,813.74
TWD 742.03 - 898.39
SAR - 6,826.36 7,190.33
KWD - 82,625 87,916
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,666 29,785 30,979
GBP 34,554 34,693 35,724
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,549 31,676 32,596
JPY 160.34 160.98 168.96
AUD 18,343 18,417 19,013
SGD 20,167 20,248 20,845
THB 767 770 806
CAD 18,504 18,578 19,172
NZD 15,029 15,573
KRW 18.35 20.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25900 25900 26260
AUD 18334 18434 19365
CAD 18494 18594 19610
CHF 31675 31705 33291
CNY 3821.3 3846.3 3981.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29765 29795 31521
GBP 34657 34707 36465
HKD 0 3330 0
JPY 161.07 161.57 172.08
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.5 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15071 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20134 20264 20995
THB 0 731.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14450000 14450000 14800000
SBJ 13000000 13000000 14800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,835 25,865 26,270
USD20 25,815 25,865 26,845
USD1 25,765 25,865 26,895
AUD 18,359 18,459 19,605
EUR 29,525 29,625 31,349
CAD 18,414 18,514 19,863
SGD 20,184 20,334 21,642
JPY 161.32 162.82 168.75
GBP 34,511 34,661 35,810
XAU 14,748,000 0 14,872,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/09/2026 10:30
Ngân hàng