Thị trường tiền tệ tuần 30/12/2024 – 3/1/2025:

Ngân hàng Nhà nước giao chỉ tiêu tín dụng ngay từ đầu năm, giá vàng và tỷ giá cùng tăng

Mai Tấn
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có văn bản gửi các tổ chức tín dụng thông báo về nguyên tắc giao tăng trưởng tín dụng năm 2025 để các tổ chức tín dụng chủ động triển khai thực hiện. Theo đó, NHNN dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2025 khoảng 16%. Trên thị trường tiền tệ tuần qua ghi nhận diễn biến tiếp tục tăng của cả tỷ giá và giá vàng.
aa
Ngân hàng Nhà nước tiếp tục kiểm soát, ngăn giá vàng SJC vênh cao so với thế giới Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng nhích tăng

Dự kiến tăng trưởng tín dụng năm 2025 khoảng 16%

Theo NHNN, mức giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của tổ chức tín dụng căn cứ kết quả chấm điểm xếp hạng năm 2023 theo quy định tại Thông tư 52/2018/TT-NHNN (đã được sửa đổi, bổ sung) nhân với hệ số áp dụng chung cho các ngân hàng.

NHNN cho biết sẽ tiến tới lộ trình hạn chế và xoá bỏ điều hành phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng từng năm cho từng đơn vị. Thay vào đó, nhà điều hành chỉ quản lý mức tăng trưởng tín dụng chung cho cả hệ thống như là một trong những biện pháp kiểm soát lạm phát...

NHNN yêu cầu tổ chức tín dụng thực hiện tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, đúng quy định của pháp luật trên cơ sở phù hợp với năng lực quản trị rủi ro, tình hình thanh khoản và khả năng huy động vốn, bảo đảm chất lượng tín dụng, sử dụng vốn đúng mục đích, hạn chế nợ xấu gia tăng và phát sinh, đảm bảo an toàn hoạt động; tăng trưởng tín dụng đúng, trúng mục tiêu, tín dụng đi vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ.

Trong những ngày cuối năm 2024, lãi suất liên ngân hàng liên tục biến động, lãi suất liên ngân hàng qua đêm tại ngày 27/12/2024 ở mức 4%, sau khi giảm về mức 3,15% tại ngày 30/12 và phục hồi lên 4,04% tại ngày 31/12/2024.

Trong năm 2025, NHNN cho biết sẽ theo dõi sát diễn biến, tình hình thực tế để điều hành tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, khoa học, bám sát tình hình để hệ thống tổ chức tín dụng cung ứng đủ vốn tín dụng phục vụ nền kinh tế và đảm bảo an toàn hệ thống, gắn với ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

Ngân hàng Nhà nước giao chỉ tiêu tín dụng ngay từ đầu năm, giá vàng và tỷ giá cùng tăng
Ngân hàng Nhà nước giao chỉ tiêu tín dụng ngay từ đầu năm. Ảnh: T.L

NHNN cho biết, sẽ chủ động điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng để tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng cung ứng đủ và kịp thời vốn tín dụng cho nền kinh tế mà tổ chức tín dụng không cần có văn bản đề nghị.

Trên thị trường mở, tuần qua NHNN tiếp tục có những phiên bơm ròng, theo đó tại phiên ngày 30/12/2024, NHNN bơm ròng 9.397,2 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở. Tiếp đó, phiên ngày 31/12/2024, NHNN tiếp tục bơm ròng hơn 13.989 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở.

Trong phiên ngày 2/1 đầu năm 2025, NHNN chào thầu 5.000 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất ở mức 4,0%. Có 5.000 tỷ đồng trúng thầu; không có khối lượng đáo hạn. NHNN chào thầu tín phiếu NHNN ở 2 kỳ hạn 7 ngày và 14 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 8.390 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 7 ngày và 1.600 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 14 ngày, đều với lãi suất 4,0%. Có 12.100 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng 7.110 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở.

Giá vàng nhẫn tăng vượt vàng miếng

Thị trường kim loại quý trong tuần này nhích tăng trên cả thị trường thế giới và trong nước.

Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 3/1/2025, giá vàng thế giới giao ngay dừng tại mốc 2.657,45 USD/ounce, tăng gần 24 USD/ounce so với tuần trước đó. Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank giá vàng thế giới có giá khoảng 80,929 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.717 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 82,4 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Cũng có diễn biến tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước cũng đã nhích tăng, giá vàng trong nước tiến lên mốc 85,5 triệu đồng/lượng.

Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 3/1 giữ ở mức 85,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 84 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, tăng 800 nghìn đồng đến 900 nghìn đồng/lượng so với tuần trước đó.

Ngân hàng Nhà nước giao chỉ tiêu tín dụng ngay từ đầu năm, giá vàng và tỷ giá cùng tăng
Giá vàng nhẫn đã tăng vượt giá vàng miếng. Ảnh: T.L

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng tăng và tiến tới mốc hơn 85,8 triệu đồng/lượng. Với mức tăng này giá vàng nhẫn tròn trơn đã tăng cao hơn giá vàng miếng SJC. Thời điểm 16h giờ chiều ngày 3/1, tại DOJI giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 85 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 84 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 84,4 – 85,6 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 84,6 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 85,8 triệu đồng/lượng. So với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng 800 nghìn đồng - 1,2 triệu đồng/lượng.

Năm 2024 là năm kỷ lục của vàng, ghi nhận mức giá cao nhất mọi thời đại. Với mức tăng 28%, vàng cũng là một trong các kênh đầu tư sinh lời tốt nhất năm 2024. Trong nước, vàng miếng SJC tăng 14%, còn vàng nhẫn tăng tới 35%.

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với Kitco News, bà Chantele Schieven, Trưởng bộ phận Nghiên cứu tại Capitalight Research cho biết, thị trường vàng đang ở trạng thái “chờ và xem”, khi các nhà đầu tư đánh giá sức khỏe của nền kinh tế trong bối cảnh lạm phát khó kiểm soát.

Bà Schieven dự báo, giá vàng giao dịch sẽ trong khoảng 2.500-2.700 USD/ounce nửa đầu năm 2025. Tuy nhiên, bà kỳ vọng một đợt tăng giá vào nửa cuối năm, đẩy giá vàng vượt ngưỡng 3.000 USD/ounce.

Trong khi đó, tỷ giá sau tuần hạ nhiệt lại có dấu hiệu tăng trở lại trước áp lực tăng giá của đồng USD. Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 30/12/2024 ghi nhận ở mức 24.322 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá vào hôm thứ Ba và hôm thứ Tư sau đó giữ nguyên tỷ giá hôm thứ Năm và tăng trở lại vào các ngày thứ Sáu cuối tuần.

Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.342 đồng/USD, tăng 20 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Còn tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng giảm nhưng vẫn neo ở mức cao. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.530 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank chỉ điều chỉnh tăng vào những ngày đầu tuần và giữ nguyên tỷ giá vào ngày thứ Năm và điều chỉnh tăng vào hôm thứ Sáu cuối tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.559 đồng/USD, tăng 29 đồng/USD so với hôm đầu tuần./.

Chỉ số DXY lại có xu hướng tăng mạnh

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng tăng mạnh trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 3/1/2025, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 109,09 điểm, tăng 1 điểm so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

(TBTCO) - PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần, cao hơn 53% thị giá PCB kết phiên ngày 28/9. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh còn nhiều áp lực, danh tính nhà đầu tư và tỷ lệ cổ phần được phân phối là những điểm đáng chú ý.
Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Chỉ trong hơn một tuần, ba ngân hàng trung ương lớn đồng loạt tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm khi nỗi lo lạm phát dai dẳng. USD mạnh lên gây áp lực tỷ giá, đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có “nối gót” xu hướng thắt chặt. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số và dư địa điều hành tỷ giá đang tạo cơ sở để duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.
Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,400 142,400
Hà Nội - PNJ 139,400 142,400
Đà Nẵng - PNJ 139,400 142,400
Miền Tây - PNJ 139,400 142,400
Tây Nguyên - PNJ 139,400 142,400
Đông Nam Bộ - PNJ 139,400 142,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 14,240
Miếng SJC Nghệ An 13,940 14,240
Miếng SJC Thái Bình 13,940 14,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,890 14,290
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,890 14,290
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,890 14,290
NL 99.99 13,400
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,394 14,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,394 14,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,389 1,419
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,389 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,364 1,409
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,505 139,505
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,036 105,836
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,172 95,972
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,308 86,108
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,503 82,303
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,111 58,911
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 1,424
Cập nhật: 29/09/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17679 17952 18531
CAD 17806 18080 18699
CHF 30592 30968 31610
CNY 0 3828 3924
EUR 28909 29127 30208
GBP 33627 34015 34953
HKD 0 3180 3383
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14388 14976
SGD 19779 20061 20631
THB 689 752 805
USD (1,2) 25709 0 0
USD (5,10,20) 25748 0 0
USD (50,100) 25776 25790 26160
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,775 25,775 26,155
USD(1-2-5) 24,744 - -
USD(10-20) 24,744 - -
EUR 28,958 28,981 30,354
JPY 161.06 161.35 171.13
GBP 33,832 33,924 35,098
AUD 17,879 17,944 18,631
CAD 17,993 18,051 18,718
CHF 30,848 30,944 31,860
SGD 19,890 19,952 20,736
CNY - 3,794 3,939
HKD 3,243 3,253 3,389
KRW 17.6 18.35 19.97
THB 736.97 746.07 798.37
NZD 14,375 14,508 14,947
SEK - 2,563 2,655
DKK - 3,884 4,022
NOK - 2,680 2,775
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,939.52 - 6,704.16
TWD 737.02 - 892.94
SAR - 6,798.21 7,161.14
KWD - 82,097 87,360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,026 29,143 30,351
GBP 33,769 33,905 34,924
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,786 30,910 31,841
JPY 160.68 161.33 169.31
AUD 17,884 17,956 18,548
SGD 19,966 20,046 20,637
THB 757 760 797
CAD 18,022 18,094 18,682
NZD 14,458 14,997
KRW 18.31 20.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26150
AUD 17863 17963 18889
CAD 17986 18086 19102
CHF 30834 30864 32445
CNY 3810.1 3835.1 3970.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29087 29117 30842
GBP 33925 33975 35745
HKD 0 3315 0
JPY 161.9 162.4 172.91
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14497 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19934 20064 20787
THB 0 717.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 13000000 13000000 14350000
Cập nhật: 29/09/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30