Thị trường tiền tệ tuần 10/2-14/2:

Ngân hàng Nhà nước hướng tới tăng trưởng tín dụng 16%, giá vàng tăng mạnh, giá bán USD tại ngân hàng lập đỉnh mới

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần đầu từ ngày (10 - 14/02) là trong năm 2025, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt và hiệu quả, phối hợp chặt chẽ với các chính sách tài khóa và vĩ mô khác để ổn định nền kinh tế và hỗ trợ tăng trưởng. Trong khi đó, giá vàng tăng mạnh, tỷ giá lại "nóng" lên, giá bán USD tại ngân hàng lập đỉnh mới.
aa
Giá USD giảm sâu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng tăng mạnh trước kỳ nghỉ Tết Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản, giá vàng tăng mạnh trong ngày vía Thần Tài

Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành tín dụng phù hợp

Ngay trong những ngày đầu năm, Thống đốc NHNN đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2025. Chỉ thị nêu rõ, trong năm 2025, NHNN sẽ điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô nhằm góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hoạt động của các TCTD. Đồng thời, tiếp tục đổi mới công tác điều hành tăng trưởng tín dụng. Dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 16%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.

Ngân hàng Nhà nước hướng tới tăng trưởng tín dụng 16%, giá vàng tăng mạnh, giá bán USD tại ngân hàng lập đỉnh mới
Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt và hiệu quả. Ảnh: T.L
Bước sang năm 2025 thị trường ngoại tệ và tỷ giá tiếp tục chịu áp lực chủ yếu do diễn biến kinh tế - chính trị quốc tế khó lường, đồng USD quốc tế biến động nhanh, tăng mạnh và cân đối cung cầu ngoại tệ kém thuận lợi. Tuy nhiên, với những biện pháp điều hành, can thiệp ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước, thị trường ngoại tệ duy trì ổn định, tâm lý thị trường được bình ổn.

Chia sẻ mới đây, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết, thực tế, trong nhiều năm qua, dòng vốn tín dụng ngân hàng luôn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Đơn cử năm 2023, GDP tăng trưởng gần 7%, thì tăng trưởng tín dụng ở mức 14,55%; năm 2024, GDP tăng trưởng 7,09%, thì tín dụng tăng trưởng 15,08%, trung bình tăng trưởng tín dụng 2% sẽ giúp tăng trưởng GDP 1%.

Vì vậy, năm nay, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 16% cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8%. Thực tế này cho thấy, vai trò của vốn tín dụng trong nền kinh tế tiếp tục giữ tác động hết sức quan trọng với quyết tâm tăng trưởng GDP cao trong năm 2025. Mặt khác, điều này cũng đặt trọng trách lên ngành Ngân hàng trong mục tiêu giải ngân nguồn vốn kịp thời, hiệu quả, đảm bảo được chất lượng tín dụng.

Theo lãnh đạo NHNN, trong điều hành hạn mức tín dụng, NHNN đặt chỉ tiêu định hướng 16%, nhưng cũng có thể cao hơn nếu vẫn kiểm soát được lạm phát, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô trong ngưỡng cho phép và đạt mục tiêu tăng trưởng. NHNN sẽ tiếp tục tạo thuận lợi cho các ngân hàng thương mại (NHTM). Nếu NHTM cho vay tích cực, đúng đối tượng và phát huy được hiệu quả nguồn vốn cũng như bảo đảm được an toàn, lành mạnh thì càng được chủ động triển khai. Đồng thời, NHNN sẽ kiểm soát cũng như bảo đảm tổng thể mức tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế.

Giá vàng tăng nhanh, giá bán USD tại các ngân hàng lập đỉnh mới

Thị trường kim loại quý trong tuần này tiếp tục ghi nhận diễn biến tăng mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 14/02/2025, giá vàng giao ngay dừng tại mốc 2.928,48 USD/ounce, tăng hơn 72 USD/ounce so với tuần trước đó. Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, giá vàng thế giới tương đương với mức 89,327 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.606 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 90,4 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước tăng mạnh, có thời điểm vượt mốc 93 triệu đồng/lượng. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 14/02 giữ ở mức 91,3 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 88,3 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, tăng mạnh 1 triệu đồng so với giá vàng ở tuần trước đó.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng tăng mạnh và vượt mốc 91 triệu đồng/lượng. Với mức tăng này giá vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục duy trì đà tăng cao tương đương với giá vàng miếng SJC. Thời điểm 16h giờ chiều ngày 14/02, tại DOJI giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 91,1 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 89 triệu đồng/lượng.

Ngân hàng Nhà nước hướng tới tăng trưởng tín dụng 16%, giá vàng tăng mạnh, giá bán USD tại ngân hàng lập đỉnh mới
Thị trường kim loại quý trong tuần này tiếp tục ghi nhận diễn biến tăng mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước. Ảnh: T.L

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 89,2 – 91,3 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 89,3 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 91,3 triệu đồng/lượng. So với giá vàng trước giá vàng nhẫn đã tăng khoảng từ 1,2 đến 2,2 triệu đồng/lượng.

Theo nhận định của chuyên gia vàng Trần Duy Phương, giá vàng trong nước sẽ khó suy giảm mạnh, rất có khả năng sẽ quay đầu tăng lại. Giá vàng trong nước thấp hơn giá thế giới chỉ mang yếu tố nhất thời trong một thời điểm ngắn, khoảng 1 tuần đến 10 ngày, chứ không thể duy trì lâu dài. Giá vàng thế giới trong một vài tuần tới nếu vẫn duy trì mức ổn định thì giá vàng trong nước sẽ tăng lên.

Tuy nhiên, theo vị chuyên gia, giá vàng thế giới vẫn tiềm ẩn nguy cơ giảm sâu, có thể giảm về mức 2.700 USD/ounce trước khi tăng lại. Vì thế, thời điểm này nhiều người e ngại mua vàng, không dám mạo hiểm.

Cũng theo vị chuyên gia này, các giải pháp, chính sách ổn định thị trường vàng trong thời gian qua của NHNN, các cơ quan chức năng cũng đã phát huy vai trò. Đây là sự thành công của chính sách điều hành kinh tế của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước. Việc giá trong nước chỉ chênh 1-2 triệu đồng/lượng so với giá thế giới là điều chấp nhận được.

Trong khi đó, tỷ giá lại có dấu hiệu nhích tăng. Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 10/2 ghi nhận ở mức 24.462 đồng/USD, không đổi so với tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã tăng mạnh tỷ giá vào các ngày còn lại của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.572 đồng/USD, tăng 110 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Còn tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng có xu hướng tăng mạnh và đã thiếp lập mốc kỷ lục mới. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.470 đồng/USD. Sau đó, Vietcombank chỉ điều chỉnh tăng mạnh vào hôm thứ Ba, thứ Tư và thứ Năm sau đó giảm nhẹ vào ngày thứ Sáu cuối tuần.

Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.660 đồng/USD, tăng 190 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Sau khi hạ nhiệt trong tháng 1/2025, tỷ giá USD/VND tiếp tục căng thẳng. Giá bán USD được niêm yết bởi các ngân hàng ngày 11/2 ở mức cao chưa từng có, chạm mốc 25.700 VND/USD và tiếp tục bán ra sát mức trần cho phép theo quy định của NHNN.

Chỉ số DXY tiếp tục có xu hướng giảm nhẹ

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng giảm trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 14/2/2025, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 107,02 điểm, giảm nhẹ điểm so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần, chỉ số này có dấu hiệu hạ nhiệt sau khi tăng nóng lên mức 110 điểm đầu tháng 1/2025, mức cao nhất trong vòng 2 năm qua.

Mai Tấn

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

(TBTCO) - Hưởng ứng chủ trương chuyển đổi số quốc gia, LPBank đang phát triển LPBank Healthcare - hệ sinh thái tài chính số chuyên biệt cho lĩnh vực y tế, đồng hành cùng các cơ sở khám chữa bệnh xây dựng bệnh viện thông minh, tối ưu vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.
PGBank báo lãi tăng gần 66%, nâng vốn mạnh, tạo đà mở rộng tín dụng

PGBank báo lãi tăng gần 66%, nâng vốn mạnh, tạo đà mở rộng tín dụng

(TBTCO) - PGBank lãi trước thuế 439,8 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 65,8% so với cùng kỳ nhờ đà tăng các nguồn thu ngoài lãi và chi phí dự phòng giảm; dư nợ cho vay khách hàng tăng 4,3%, lên 48.349 tỷ đồng. Ngân hàng cũng đã hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 7.327 tỷ đồng, tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Tỷ giá USD hôm nay (23/7): Tỷ giá trung tâm tăng đáng kể, USD ngân hàng diễn biến trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (23/7): Tỷ giá trung tâm tăng đáng kể, USD ngân hàng diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Sáng 23/7, tỷ giá trung tâm tăng đáng kể, lên 25.272 đồng. Tại một số ngân hàng, tỷ giá USD đồng loạt giảm, trong khi giá bán ra giữ ở mức 26.500 đồng, cao hơn thị trường tự do. Trong khi đó, DXY giảm 0,05%, xuống 101,14 điểm. Nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất vì lạm phát nguồn cung, nhiều ngân hàng trung ương lớn có thể điều chỉnh theo hướng tương tự.
Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

(TBTCO) - Các chuyên gia đánh giá, mặt bằng lãi suất nhiều khả năng sẽ đi ngang hoặc tăng nhẹ trong nửa cuối năm. Dù thanh khoản được kỳ vọng cải thiện nhờ các chính sách hỗ trợ, rủi ro về nguồn vốn và thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn hiện hữu.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 141,200
Hà Nội - PNJ 136,200 141,200
Đà Nẵng - PNJ 136,200 141,200
Miền Tây - PNJ 136,200 141,200
Tây Nguyên - PNJ 136,200 141,200
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 141,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,150
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,340 14,040
Trang sức 99.99 13,350 14,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 1,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 139
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 137,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 10,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 94,679
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 84,948
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 81,195
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 58,119
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cập nhật: 26/07/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17839 18112 18697
CAD 18141 18417 19040
CHF 31530 31910 32550
CNY 0 3846 3939
EUR 29293 29513 30596
GBP 34260 34651 35605
HKD 0 3225 3429
JPY 153 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14925 15515
SGD 19849 20131 20717
THB 696 759 813
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26138 26508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26520
AUD 18051 18151 19074
CAD 18341 18441 19457
CHF 31837 31867 33445
CNY 3827.4 3852.4 3987.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29526 29556 31282
GBP 34554 34604 36362
HKD 0 3355 0
JPY 157.3 157.8 168.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13550000 13550000 14050000
SBJ 12600000 12600000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,180 26,510
USD20 26,147 26,180 26,510
USD1 24,019 26,180 26,510
AUD 18,028 18,128 19,309
EUR 29,245 29,345 31,096
CAD 18,230 18,330 19,710
SGD 20,020 20,170 20,804
JPY 157.09 158.59 164.88
GBP 34,371 34,521 35,685
XAU 13,548,000 0 14,052,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/07/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80