Thị trường tiền tệ tuần 10/2-14/2:

Ngân hàng Nhà nước hướng tới tăng trưởng tín dụng 16%, giá vàng tăng mạnh, giá bán USD tại ngân hàng lập đỉnh mới

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần đầu từ ngày (10 - 14/02) là trong năm 2025, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt và hiệu quả, phối hợp chặt chẽ với các chính sách tài khóa và vĩ mô khác để ổn định nền kinh tế và hỗ trợ tăng trưởng. Trong khi đó, giá vàng tăng mạnh, tỷ giá lại "nóng" lên, giá bán USD tại ngân hàng lập đỉnh mới.
aa
Giá USD giảm sâu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng tăng mạnh trước kỳ nghỉ Tết Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản, giá vàng tăng mạnh trong ngày vía Thần Tài

Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành tín dụng phù hợp

Ngay trong những ngày đầu năm, Thống đốc NHNN đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2025. Chỉ thị nêu rõ, trong năm 2025, NHNN sẽ điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô nhằm góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hoạt động của các TCTD. Đồng thời, tiếp tục đổi mới công tác điều hành tăng trưởng tín dụng. Dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 16%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.

Ngân hàng Nhà nước hướng tới tăng trưởng tín dụng 16%, giá vàng tăng mạnh, giá bán USD tại ngân hàng lập đỉnh mới
Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt và hiệu quả. Ảnh: T.L
Bước sang năm 2025 thị trường ngoại tệ và tỷ giá tiếp tục chịu áp lực chủ yếu do diễn biến kinh tế - chính trị quốc tế khó lường, đồng USD quốc tế biến động nhanh, tăng mạnh và cân đối cung cầu ngoại tệ kém thuận lợi. Tuy nhiên, với những biện pháp điều hành, can thiệp ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước, thị trường ngoại tệ duy trì ổn định, tâm lý thị trường được bình ổn.

Chia sẻ mới đây, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết, thực tế, trong nhiều năm qua, dòng vốn tín dụng ngân hàng luôn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Đơn cử năm 2023, GDP tăng trưởng gần 7%, thì tăng trưởng tín dụng ở mức 14,55%; năm 2024, GDP tăng trưởng 7,09%, thì tín dụng tăng trưởng 15,08%, trung bình tăng trưởng tín dụng 2% sẽ giúp tăng trưởng GDP 1%.

Vì vậy, năm nay, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 16% cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8%. Thực tế này cho thấy, vai trò của vốn tín dụng trong nền kinh tế tiếp tục giữ tác động hết sức quan trọng với quyết tâm tăng trưởng GDP cao trong năm 2025. Mặt khác, điều này cũng đặt trọng trách lên ngành Ngân hàng trong mục tiêu giải ngân nguồn vốn kịp thời, hiệu quả, đảm bảo được chất lượng tín dụng.

Theo lãnh đạo NHNN, trong điều hành hạn mức tín dụng, NHNN đặt chỉ tiêu định hướng 16%, nhưng cũng có thể cao hơn nếu vẫn kiểm soát được lạm phát, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô trong ngưỡng cho phép và đạt mục tiêu tăng trưởng. NHNN sẽ tiếp tục tạo thuận lợi cho các ngân hàng thương mại (NHTM). Nếu NHTM cho vay tích cực, đúng đối tượng và phát huy được hiệu quả nguồn vốn cũng như bảo đảm được an toàn, lành mạnh thì càng được chủ động triển khai. Đồng thời, NHNN sẽ kiểm soát cũng như bảo đảm tổng thể mức tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế.

Giá vàng tăng nhanh, giá bán USD tại các ngân hàng lập đỉnh mới

Thị trường kim loại quý trong tuần này tiếp tục ghi nhận diễn biến tăng mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 14/02/2025, giá vàng giao ngay dừng tại mốc 2.928,48 USD/ounce, tăng hơn 72 USD/ounce so với tuần trước đó. Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, giá vàng thế giới tương đương với mức 89,327 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.606 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 90,4 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước tăng mạnh, có thời điểm vượt mốc 93 triệu đồng/lượng. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 14/02 giữ ở mức 91,3 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 88,3 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, tăng mạnh 1 triệu đồng so với giá vàng ở tuần trước đó.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng tăng mạnh và vượt mốc 91 triệu đồng/lượng. Với mức tăng này giá vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục duy trì đà tăng cao tương đương với giá vàng miếng SJC. Thời điểm 16h giờ chiều ngày 14/02, tại DOJI giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 91,1 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 89 triệu đồng/lượng.

Ngân hàng Nhà nước hướng tới tăng trưởng tín dụng 16%, giá vàng tăng mạnh, giá bán USD tại ngân hàng lập đỉnh mới
Thị trường kim loại quý trong tuần này tiếp tục ghi nhận diễn biến tăng mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước. Ảnh: T.L

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 89,2 – 91,3 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 89,3 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 91,3 triệu đồng/lượng. So với giá vàng trước giá vàng nhẫn đã tăng khoảng từ 1,2 đến 2,2 triệu đồng/lượng.

Theo nhận định của chuyên gia vàng Trần Duy Phương, giá vàng trong nước sẽ khó suy giảm mạnh, rất có khả năng sẽ quay đầu tăng lại. Giá vàng trong nước thấp hơn giá thế giới chỉ mang yếu tố nhất thời trong một thời điểm ngắn, khoảng 1 tuần đến 10 ngày, chứ không thể duy trì lâu dài. Giá vàng thế giới trong một vài tuần tới nếu vẫn duy trì mức ổn định thì giá vàng trong nước sẽ tăng lên.

Tuy nhiên, theo vị chuyên gia, giá vàng thế giới vẫn tiềm ẩn nguy cơ giảm sâu, có thể giảm về mức 2.700 USD/ounce trước khi tăng lại. Vì thế, thời điểm này nhiều người e ngại mua vàng, không dám mạo hiểm.

Cũng theo vị chuyên gia này, các giải pháp, chính sách ổn định thị trường vàng trong thời gian qua của NHNN, các cơ quan chức năng cũng đã phát huy vai trò. Đây là sự thành công của chính sách điều hành kinh tế của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước. Việc giá trong nước chỉ chênh 1-2 triệu đồng/lượng so với giá thế giới là điều chấp nhận được.

Trong khi đó, tỷ giá lại có dấu hiệu nhích tăng. Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 10/2 ghi nhận ở mức 24.462 đồng/USD, không đổi so với tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã tăng mạnh tỷ giá vào các ngày còn lại của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.572 đồng/USD, tăng 110 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Còn tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng có xu hướng tăng mạnh và đã thiếp lập mốc kỷ lục mới. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.470 đồng/USD. Sau đó, Vietcombank chỉ điều chỉnh tăng mạnh vào hôm thứ Ba, thứ Tư và thứ Năm sau đó giảm nhẹ vào ngày thứ Sáu cuối tuần.

Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.660 đồng/USD, tăng 190 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Sau khi hạ nhiệt trong tháng 1/2025, tỷ giá USD/VND tiếp tục căng thẳng. Giá bán USD được niêm yết bởi các ngân hàng ngày 11/2 ở mức cao chưa từng có, chạm mốc 25.700 VND/USD và tiếp tục bán ra sát mức trần cho phép theo quy định của NHNN.

Chỉ số DXY tiếp tục có xu hướng giảm nhẹ

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng giảm trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 14/2/2025, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 107,02 điểm, giảm nhẹ điểm so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần, chỉ số này có dấu hiệu hạ nhiệt sau khi tăng nóng lên mức 110 điểm đầu tháng 1/2025, mức cao nhất trong vòng 2 năm qua.

Mai Tấn

Đọc thêm

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼550K 16,000 ▼550K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼550K 15,950 ▼550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼350K 16,950 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼350K 16,900 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼350K 16,880 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17752 18025 18601
CAD 18515 18792 19410
CHF 32601 32985 33633
CNY 0 3470 3830
EUR 29811 30083 31111
GBP 34376 34767 35704
HKD 0 3238 3441
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14935 15520
SGD 19993 20275 20801
THB 719 782 835
USD (1,2) 26081 0 0
USD (5,10,20) 26122 0 0
USD (50,100) 26150 26170 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80