Thị trường tiền tệ tuần 10/2-14/2:

Ngân hàng Nhà nước hướng tới tăng trưởng tín dụng 16%, giá vàng tăng mạnh, giá bán USD tại ngân hàng lập đỉnh mới

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần đầu từ ngày (10 - 14/02) là trong năm 2025, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt và hiệu quả, phối hợp chặt chẽ với các chính sách tài khóa và vĩ mô khác để ổn định nền kinh tế và hỗ trợ tăng trưởng. Trong khi đó, giá vàng tăng mạnh, tỷ giá lại "nóng" lên, giá bán USD tại ngân hàng lập đỉnh mới.
aa
Giá USD giảm sâu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng tăng mạnh trước kỳ nghỉ Tết Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản, giá vàng tăng mạnh trong ngày vía Thần Tài

Ngân hàng Nhà nước sẽ điều hành tín dụng phù hợp

Ngay trong những ngày đầu năm, Thống đốc NHNN đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2025. Chỉ thị nêu rõ, trong năm 2025, NHNN sẽ điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô nhằm góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hoạt động của các TCTD. Đồng thời, tiếp tục đổi mới công tác điều hành tăng trưởng tín dụng. Dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 16%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.

Ngân hàng Nhà nước hướng tới tăng trưởng tín dụng 16%, giá vàng tăng mạnh, giá bán USD tại ngân hàng lập đỉnh mới
Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt và hiệu quả. Ảnh: T.L
Bước sang năm 2025 thị trường ngoại tệ và tỷ giá tiếp tục chịu áp lực chủ yếu do diễn biến kinh tế - chính trị quốc tế khó lường, đồng USD quốc tế biến động nhanh, tăng mạnh và cân đối cung cầu ngoại tệ kém thuận lợi. Tuy nhiên, với những biện pháp điều hành, can thiệp ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước, thị trường ngoại tệ duy trì ổn định, tâm lý thị trường được bình ổn.

Chia sẻ mới đây, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết, thực tế, trong nhiều năm qua, dòng vốn tín dụng ngân hàng luôn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Đơn cử năm 2023, GDP tăng trưởng gần 7%, thì tăng trưởng tín dụng ở mức 14,55%; năm 2024, GDP tăng trưởng 7,09%, thì tín dụng tăng trưởng 15,08%, trung bình tăng trưởng tín dụng 2% sẽ giúp tăng trưởng GDP 1%.

Vì vậy, năm nay, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 16% cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8%. Thực tế này cho thấy, vai trò của vốn tín dụng trong nền kinh tế tiếp tục giữ tác động hết sức quan trọng với quyết tâm tăng trưởng GDP cao trong năm 2025. Mặt khác, điều này cũng đặt trọng trách lên ngành Ngân hàng trong mục tiêu giải ngân nguồn vốn kịp thời, hiệu quả, đảm bảo được chất lượng tín dụng.

Theo lãnh đạo NHNN, trong điều hành hạn mức tín dụng, NHNN đặt chỉ tiêu định hướng 16%, nhưng cũng có thể cao hơn nếu vẫn kiểm soát được lạm phát, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô trong ngưỡng cho phép và đạt mục tiêu tăng trưởng. NHNN sẽ tiếp tục tạo thuận lợi cho các ngân hàng thương mại (NHTM). Nếu NHTM cho vay tích cực, đúng đối tượng và phát huy được hiệu quả nguồn vốn cũng như bảo đảm được an toàn, lành mạnh thì càng được chủ động triển khai. Đồng thời, NHNN sẽ kiểm soát cũng như bảo đảm tổng thể mức tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế.

Giá vàng tăng nhanh, giá bán USD tại các ngân hàng lập đỉnh mới

Thị trường kim loại quý trong tuần này tiếp tục ghi nhận diễn biến tăng mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 14/02/2025, giá vàng giao ngay dừng tại mốc 2.928,48 USD/ounce, tăng hơn 72 USD/ounce so với tuần trước đó. Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, giá vàng thế giới tương đương với mức 89,327 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.606 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 90,4 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước tăng mạnh, có thời điểm vượt mốc 93 triệu đồng/lượng. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 14/02 giữ ở mức 91,3 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 88,3 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, tăng mạnh 1 triệu đồng so với giá vàng ở tuần trước đó.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng tăng mạnh và vượt mốc 91 triệu đồng/lượng. Với mức tăng này giá vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục duy trì đà tăng cao tương đương với giá vàng miếng SJC. Thời điểm 16h giờ chiều ngày 14/02, tại DOJI giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 91,1 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 89 triệu đồng/lượng.

Ngân hàng Nhà nước hướng tới tăng trưởng tín dụng 16%, giá vàng tăng mạnh, giá bán USD tại ngân hàng lập đỉnh mới
Thị trường kim loại quý trong tuần này tiếp tục ghi nhận diễn biến tăng mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước. Ảnh: T.L

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 89,2 – 91,3 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 89,3 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 91,3 triệu đồng/lượng. So với giá vàng trước giá vàng nhẫn đã tăng khoảng từ 1,2 đến 2,2 triệu đồng/lượng.

Theo nhận định của chuyên gia vàng Trần Duy Phương, giá vàng trong nước sẽ khó suy giảm mạnh, rất có khả năng sẽ quay đầu tăng lại. Giá vàng trong nước thấp hơn giá thế giới chỉ mang yếu tố nhất thời trong một thời điểm ngắn, khoảng 1 tuần đến 10 ngày, chứ không thể duy trì lâu dài. Giá vàng thế giới trong một vài tuần tới nếu vẫn duy trì mức ổn định thì giá vàng trong nước sẽ tăng lên.

Tuy nhiên, theo vị chuyên gia, giá vàng thế giới vẫn tiềm ẩn nguy cơ giảm sâu, có thể giảm về mức 2.700 USD/ounce trước khi tăng lại. Vì thế, thời điểm này nhiều người e ngại mua vàng, không dám mạo hiểm.

Cũng theo vị chuyên gia này, các giải pháp, chính sách ổn định thị trường vàng trong thời gian qua của NHNN, các cơ quan chức năng cũng đã phát huy vai trò. Đây là sự thành công của chính sách điều hành kinh tế của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước. Việc giá trong nước chỉ chênh 1-2 triệu đồng/lượng so với giá thế giới là điều chấp nhận được.

Trong khi đó, tỷ giá lại có dấu hiệu nhích tăng. Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 10/2 ghi nhận ở mức 24.462 đồng/USD, không đổi so với tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã tăng mạnh tỷ giá vào các ngày còn lại của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.572 đồng/USD, tăng 110 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Còn tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng có xu hướng tăng mạnh và đã thiếp lập mốc kỷ lục mới. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.470 đồng/USD. Sau đó, Vietcombank chỉ điều chỉnh tăng mạnh vào hôm thứ Ba, thứ Tư và thứ Năm sau đó giảm nhẹ vào ngày thứ Sáu cuối tuần.

Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.660 đồng/USD, tăng 190 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Sau khi hạ nhiệt trong tháng 1/2025, tỷ giá USD/VND tiếp tục căng thẳng. Giá bán USD được niêm yết bởi các ngân hàng ngày 11/2 ở mức cao chưa từng có, chạm mốc 25.700 VND/USD và tiếp tục bán ra sát mức trần cho phép theo quy định của NHNN.

Chỉ số DXY tiếp tục có xu hướng giảm nhẹ

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng giảm trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 14/2/2025, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 107,02 điểm, giảm nhẹ điểm so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần, chỉ số này có dấu hiệu hạ nhiệt sau khi tăng nóng lên mức 110 điểm đầu tháng 1/2025, mức cao nhất trong vòng 2 năm qua.

Mai Tấn

Đọc thêm

HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Khi chuyển đổi số bước sang giai đoạn lấy dữ liệu làm trung tâm, doanh nghiệp không chỉ cần một ngân hàng cung cấp vốn mà cần một đối tác tài chính được tích hợp trực tiếp vào quy trình vận hành. Đó là nền tảng để HDBank chính thức mở rộng hệ sinh thái tài chính số thông qua hợp tác với MISA, đưa các giải pháp tài chính hiện đại đến cộng đồng doanh nghiệp và hộ kinh doanh trên cả nước.
Đại hội đồng cổ đông Vietnam Airlines: Nhắm doanh thu kỷ lục gần 140.000 tỷ đồng, "biến số" từ giá nhiên liệu bay

Đại hội đồng cổ đông Vietnam Airlines: Nhắm doanh thu kỷ lục gần 140.000 tỷ đồng, "biến số" từ giá nhiên liệu bay

(TBTCO) - Năm 2026, Vietnam Airlines đặt mục tiêu doanh thu hợp nhất 138.899 tỷ đồng, tăng hơn 12%. Dù dự kiến lãi khoảng 2.000 tỷ đồng nửa đầu năm, lợi nhuận trước thuế hợp nhất cả năm khoảng 510 tỷ đồng do áp lực từ giá nhiên liệu bay. Hãng tiếp tục tái cơ cấu, thoái vốn, tăng vốn để trả nợ, đầu tư dài hạn và chủ động ứng phó biến động thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 28/6: Giá vàng trong nước tăng tới 1,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 28/6: Giá vàng trong nước tăng tới 1,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với mức điều chỉnh phổ biến 1,5 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Sáng 27/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.197 đồng, tăng 14 đồng tuần qua, đánh dấu 7 tuần tăng liên tiếp. HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai Việt Nam năm 2026 xuống 2,2% GDP, có thể gây áp lực lên VND. Còn DXY chốt tuần ở 101,36 điểm, vẫn neo cao dù Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất khi căng thẳng Mỹ - Iran lắng dịu.
Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng gần 40 USD/ounce lên mức 4.072 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp.
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
Kim TT/AVPL 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 13,250 ▼50K 13,450 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 13,200 ▼50K 13,400 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,750 ▼50K 14,250 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,700 ▼50K 14,200 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,630 ▼50K 14,180 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 ▼500K 148,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,500 ▼50K 14,800 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▼150K 14,700 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▼150K 14,700 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▼150K 14,700 ▼100K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 ▼100K 14,590 ▼100K
Trang sức 99.99 13,900 ▼100K 14,600 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 145 ▼1310K 14,802 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 145 ▼1310K 14,803 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,449 ▼5K 1,479 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,449 ▼5K 148 ▼1337K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,429 ▼5K 1,464 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,795 ▼124651K 14,495 ▼130951K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,461 ▼375K 109,961 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,212 ▼340K 99,712 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,963 ▼305K 89,463 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,601 ▼68700K 8,551 ▼77250K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,705 ▼208K 61,205 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1310K 148 ▼1337K
Cập nhật: 29/06/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18455
CAD 17989 18264 18881
CHF 31868 32249 32897
CNY 0 3828 3921
EUR 29347 29567 30648
GBP 33956 34346 35284
HKD 0 3221 3424
JPY 155 159 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14551 15138
SGD 19779 20061 20642
THB 705 769 822
USD (1,2) 26021 0 0
USD (5,10,20) 26062 0 0
USD (50,100) 26091 26105 26461
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,121 26,121 26,461
USD(1-2-5) 25,077 - -
USD(10-20) 25,077 - -
EUR 29,614 29,638 31,000
JPY 158.78 159.07 168.4
GBP 34,293 34,386 35,514
AUD 17,890 17,955 18,609
CAD 18,275 18,334 18,975
CHF 32,249 32,349 33,241
SGD 20,003 20,065 20,820
CNY - 3,814 3,954
HKD 3,300 3,310 3,442
KRW 15.79 16.47 17.89
THB 756.99 766.34 819.12
NZD 14,612 14,748 15,159
SEK - 2,673 2,763
DKK - 3,962 4,095
NOK - 2,618 2,706
LAK - 0.9 1.25
MYR 6,070.98 - 6,843.95
TWD 748.51 - 905.28
SAR - 6,913.42 7,269.75
KWD - 83,470 88,665
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,101 26,121 26,461
EUR 29,401 29,519 30,699
GBP 34,102 34,239 35,249
HKD 3,286 3,299 3,415
CHF 31,936 32,064 32,976
JPY 158.57 159.21 166.99
AUD 17,767 17,838 18,423
SGD 19,977 20,057 20,635
THB 768 771 806
CAD 18,206 18,279 18,840
NZD 14,581 15,109
KRW 16.38 18
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26097 26097 26461
AUD 17779 17879 18801
CAD 18170 18270 19284
CHF 32091 32121 33703
CNY 3808.5 3833.5 3968.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29518 29548 31270
GBP 34236 34286 36038
HKD 0 3355 0
JPY 158.84 159.34 169.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14648 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19933 20063 20789
THB 0 734.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 14800000
SBJ 13000000 13000000 14800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,461
USD20 26,135 26,185 26,461
USD1 26,135 26,185 26,461
AUD 17,824 17,924 19,037
EUR 29,656 29,656 31,380
CAD 18,136 18,236 19,545
SGD 20,022 20,172 20,732
JPY 159.57 161.07 165.63
GBP 34,125 34,475 35,598
XAU 14,498,000 0 14,802,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/06/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80