Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/01:

Giá USD giảm sâu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng tăng mạnh trước kỳ nghỉ Tết

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (20 - 24/01) là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bơm lượng lớn thanh khoản cho hệ thống ngân hàng sau khi tỷ giá có dấu hiệu “hạ nhiệt”. Trong khi đó, giá vàng miếng SJC trong nước có tuần tăng khá mạnh trước kỳ nghỉ Tết Nguyên đán.
aa
Lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều, giá vàng miếng SJC tăng mạnh Lãi suất tiết kiệm ngày 23/1: Nhiều ngân hàng hút tiền thưởng Tết bằng các kỳ hạn ngắn

Ngân hàng Nhà nước bơm mạnh tiền

Trong bối cảnh tỷ giá hạ nhiệt, NHNN đã chuyển sang trạng thái bơm ròng thanh khoản VND cho hệ thống ngân hàng. Cụ thể, trong phiên 20/01, NHNN chào thầu 20.000 tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày và 10.000 tỷ đồng kỳ hạn 21 ngày, lãi suất đều ở mức 4,0%. Toàn bộ khối lượng này trúng thầu; trong khi có 15.000 tỷ đồng đáo hạn. NHNN chào thầu tín phiếu NHNN ở kỳ hạn 14 ngày, đấu thầu lãi suất. Theo đó, có 3.550 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 4,0%. Có 11.100 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng 22.550 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở.

Giá USD giảm sâu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng tăng mạnh trước kỳ nghỉ Tết
Giá USD giảm sâu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại. Ảnh: T.L

Đến phiên 22/01, NHNN chào thầu 20.000 tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày và 20.000 tỷ đồng kỳ hạn 21 ngày, lãi suất đều ở mức 4,0%. Có 34.601,2 tỷ đồng trúng thầu; có 5.000 tỷ đồng đáo hạn. NHNN chào thầu tín phiếu ở kỳ hạn 14 ngày, đấu thầu lãi suất. Kết quả có 3.650 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 4,0%, trong khi có 23.600 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng 49.551,2 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở.

Mới đây, NHNN công bố thống kê lượng tiền gửi vào hệ thống ngân hàng tính đến cuối tháng 10/2024. Theo đó, tiền tiết kiệm của dân cư vào ngân hàng đạt 6,978 triệu tỉ đồng, tăng 20.471 tỉ đồng so với tháng 9. Như vậy trong suốt hơn 2 năm kể từ tháng 8/2022, tiền gửi của dân cư liên tục tăng, từ 5,637 triệu tỉ đồng lên 6,978 triệu tỉ đồng. Còn đối với tiền gửi của doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế (gọi chung là doanh nghiệp), theo thống kê của NHNN, tính đến cuối tháng 10/2024, lần đầu tiên tiền gửi của doanh nghiệp đạt mức kỷ lục là 7,157 triệu tỉ đồng. Con số này tăng 4,63% so với cuối năm 2023.

Tiếp đó, trong ngày 23/1, NHNN chào thầu 5.000 tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày và 5.000 tỷ đồng kỳ hạn 21 ngày, lãi suất ở mức 4,0%. Tất cả khối lượng này đều trúng thầu; có 5.000 tỷ đồng đáo hạn. NHNN chào thầu tín phiếu NHNN kỳ hạn 14 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 9.999,6 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 4,0%. Có 16.150 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng 11.150,4 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở.

Một điểm đáng lưu ý trong giai đoạn này là kỳ hạn bơm hút tiền của NHNN lên 14 ngày và 21 ngày thay vì 7 ngày như trước đó. Đồng thời, lãi suất trúng thầu cũng ở mức 4%/năm. NHNN đã bơm ròng trong những ngày gần đây, điều này phần nào khiến giá USD sụt giảm nhanh.

Giá vàng miếng SJC tăng mạnh

Thị trường kim loại quý trong tuần này tăng mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 24/01/2025, giá vàng giao ngay dừng tại mốc 2.753,77 USD/ounce, tăng hơn 39 USD/ounce so với tuần trước đó. Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, vàng thế giới có giá khoảng 82,899 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.473 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 84,5 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Giá vàng thế giới tăng mạnh nhất trong vòng 2 tháng do đồng USD suy yếu và nhu cầu phòng ngừa rủi ro tăng lên sau khi ông Donald Trump chính thức nhậm chức Tổng thống Mỹ. Trước đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tuyên bố sẽ áp thuế quan 10% lên hàng hóa Trung Quốc, 25% lên hàng hóa của Canada và Mexico, đồng thời nói sẽ đánh thuế quan đối với hàng hóa từ châu Âu. Một yếu tố khác khiến giá vàng thế giới tăng là do lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ giảm. Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho rằng các chính sách của ông Trump có thể đẩy lạm phát ở Mỹ tăng, khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) phải giữ lãi suất cao hơn lâu hơn. Môi trường lãi suất cao sẽ không có lợi cho giá của vàng. Ngoài ra giá vàng thế giới cũng sẽ gặp áp lực chốt lời khi giá lên cao. Do vậy khả năng giá vàng thế giới sẽ suy giảm trở lại vào những ngày tới.

Giá USD giảm sâu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng tăng mạnh trước kỳ nghỉ Tết
So với đầu năm, giá vàng miếng SJC đã tăng 5,5%. Ảnh: T.L

Tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước tăng mạnh tiến lên sát mốc 89 triệu đồng/lượng. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 24/1 giữ ở mức 88,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 86,9 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, tăng mạnh 2,9 triệu đồng so với tuần trước đó ở chiều bán ra. So với đầu năm, giá vàng miếng SJC đã tăng 5,5%, cao hơn tốc độ tăng của vàng thế giới từ đầu năm đến nay (tăng 4,9%).

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng tăng và tiến tới mốc 89 triệu đồng/lượng. Với mức tăng này giá vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục duy trì đà tăng cao tương đương với giá vàng miếng SJC. Thời điểm 16h giờ chiều ngày 24/1, tại DOJI giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 88,1 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 86,6 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 86,1 – 88,1 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 86,6 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 88,9 triệu đồng/lượng. So với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng 1,2 triệu đồng 1,6 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, tỷ giá lại có dấu hiệu nhích hạ nhiệt khi đồng USD có dấu diệu hạ nhiệt. Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 20/1 ghi nhận ở mức 24.341 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã giữ nguyên tỷ giá vào hôm thứ Ba và sau đó giảm mạnh tỷ giá vào các ngày còn lại của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.328 đồng/USD, giảm 13 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Còn tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng có xu hướng giảm mạnh. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.510 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank chỉ điều chỉnh giảm mạnh vào những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.320 đồng/USD, giảm 190 đồng/USD so với hôm đầu tuần./.

Chỉ số DXY tiếp tục có xu hướng giảm mạnh

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng giảm mạnh trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 24/1/2025, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 107,73 điểm, giảm 1,42 điểm so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

(TBTCO) - Chất lượng tư vấn ban đầu có vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu bảo vệ và khả năng tài chính của khách hàng có thể thay đổi trong thời gian tham gia bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, rà soát hợp đồng định kỳ cần được chú trọng trong dịch vụ sau bán hàng, giúp người tham gia hiểu rõ quyền lợi và cân nhắc những điều chỉnh phù hợp.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

(TBTCO) - BVBank dự kiến chào bán 320,41 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động hơn 3.204 tỷ đồng, qua đó, có thể nâng vốn điều lệ thêm 50% lên hơn 9.612 tỷ đồng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, song chất lượng tài sản chịu áp lực.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 ▲70K 14,560 ▲70K
Trang sức 99.99 13,970 ▲70K 14,570 ▲70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 ▲12K 14,652 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 ▲12K 14,653 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 ▼1275K 146 ▼1302K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 ▼1275K 1,461 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 ▲12K 145 ▼1293K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▲1188K 143,564 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▲900K 108,911 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼79248K 9,876 ▼88068K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▲732K 88,609 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▲699K 84,693 ▲699K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▲500K 60,621 ▲500K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Cập nhật: 16/09/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18002 18276 18855
CAD 18131 18406 19025
CHF 31089 31467 32114
CNY 0 3833 3929
EUR 29359 29580 30663
GBP 34216 34607 35545
HKD 0 3183 3386
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14665 15250
SGD 19875 20157 20729
THB 697 760 813
USD (1,2) 25734 0 0
USD (5,10,20) 25773 0 0
USD (50,100) 25801 25815 26185
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 29,416 29,440 30,834
JPY 163.06 163.35 173.25
GBP 34,397 34,490 35,683
AUD 18,184 18,250 18,942
CAD 18,296 18,355 19,034
CHF 31,351 31,448 32,379
SGD 19,987 20,049 20,836
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,245 3,255 3,392
KRW 17.51 18.26 19.87
THB 744.86 754.06 807.4
NZD 14,630 14,766 15,207
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,945 4,085
NOK - 2,732 2,832
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,937.59 - 6,710.11
TWD 738.52 - 894.19
SAR - 6,798.41 7,161.28
KWD - 82,348 87,627
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,398 29,516 30,712
GBP 34,354 34,492 35,521
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,158 31,283 32,218
JPY 163.09 163.74 171.72
AUD 18,168 18,241 18,834
SGD 20,038 20,118 20,709
THB 760 763 800
CAD 18,306 18,380 18,970
NZD 14,678 15,221
KRW 18.12 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18185 18285 19207
CAD 18314 18414 19429
CHF 31333 31363 32945
CNY 3816.2 3841.2 3976.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29553 29583 31305
GBP 34518 34568 36326
HKD 0 3305 0
JPY 164.12 164.62 175.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14765 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20037 20167 20890
THB 0 725.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,684 25,724 26,180
USD20 25,654 25,724 26,180
USD1 25,634 25,724 26,180
AUD 18,217 18,317 19,422
EUR 29,347 29,447 31,106
CAD 18,251 18,351 19,655
SGD 20,102 20,252 20,816
JPY 164.48 165.98 171.53
GBP 34,423 34,573 35,630
XAU 14,288,000 0 14,592,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/09/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30