Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/01:

Giá USD giảm sâu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng tăng mạnh trước kỳ nghỉ Tết

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (20 - 24/01) là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bơm lượng lớn thanh khoản cho hệ thống ngân hàng sau khi tỷ giá có dấu hiệu “hạ nhiệt”. Trong khi đó, giá vàng miếng SJC trong nước có tuần tăng khá mạnh trước kỳ nghỉ Tết Nguyên đán.
aa
Lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều, giá vàng miếng SJC tăng mạnh Lãi suất tiết kiệm ngày 23/1: Nhiều ngân hàng hút tiền thưởng Tết bằng các kỳ hạn ngắn

Ngân hàng Nhà nước bơm mạnh tiền

Trong bối cảnh tỷ giá hạ nhiệt, NHNN đã chuyển sang trạng thái bơm ròng thanh khoản VND cho hệ thống ngân hàng. Cụ thể, trong phiên 20/01, NHNN chào thầu 20.000 tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày và 10.000 tỷ đồng kỳ hạn 21 ngày, lãi suất đều ở mức 4,0%. Toàn bộ khối lượng này trúng thầu; trong khi có 15.000 tỷ đồng đáo hạn. NHNN chào thầu tín phiếu NHNN ở kỳ hạn 14 ngày, đấu thầu lãi suất. Theo đó, có 3.550 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 4,0%. Có 11.100 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng 22.550 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở.

Giá USD giảm sâu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng tăng mạnh trước kỳ nghỉ Tết
Giá USD giảm sâu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại. Ảnh: T.L

Đến phiên 22/01, NHNN chào thầu 20.000 tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày và 20.000 tỷ đồng kỳ hạn 21 ngày, lãi suất đều ở mức 4,0%. Có 34.601,2 tỷ đồng trúng thầu; có 5.000 tỷ đồng đáo hạn. NHNN chào thầu tín phiếu ở kỳ hạn 14 ngày, đấu thầu lãi suất. Kết quả có 3.650 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 4,0%, trong khi có 23.600 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng 49.551,2 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở.

Mới đây, NHNN công bố thống kê lượng tiền gửi vào hệ thống ngân hàng tính đến cuối tháng 10/2024. Theo đó, tiền tiết kiệm của dân cư vào ngân hàng đạt 6,978 triệu tỉ đồng, tăng 20.471 tỉ đồng so với tháng 9. Như vậy trong suốt hơn 2 năm kể từ tháng 8/2022, tiền gửi của dân cư liên tục tăng, từ 5,637 triệu tỉ đồng lên 6,978 triệu tỉ đồng. Còn đối với tiền gửi của doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế (gọi chung là doanh nghiệp), theo thống kê của NHNN, tính đến cuối tháng 10/2024, lần đầu tiên tiền gửi của doanh nghiệp đạt mức kỷ lục là 7,157 triệu tỉ đồng. Con số này tăng 4,63% so với cuối năm 2023.

Tiếp đó, trong ngày 23/1, NHNN chào thầu 5.000 tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày và 5.000 tỷ đồng kỳ hạn 21 ngày, lãi suất ở mức 4,0%. Tất cả khối lượng này đều trúng thầu; có 5.000 tỷ đồng đáo hạn. NHNN chào thầu tín phiếu NHNN kỳ hạn 14 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 9.999,6 tỷ đồng trúng thầu với lãi suất 4,0%. Có 16.150 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng 11.150,4 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở.

Một điểm đáng lưu ý trong giai đoạn này là kỳ hạn bơm hút tiền của NHNN lên 14 ngày và 21 ngày thay vì 7 ngày như trước đó. Đồng thời, lãi suất trúng thầu cũng ở mức 4%/năm. NHNN đã bơm ròng trong những ngày gần đây, điều này phần nào khiến giá USD sụt giảm nhanh.

Giá vàng miếng SJC tăng mạnh

Thị trường kim loại quý trong tuần này tăng mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 24/01/2025, giá vàng giao ngay dừng tại mốc 2.753,77 USD/ounce, tăng hơn 39 USD/ounce so với tuần trước đó. Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, vàng thế giới có giá khoảng 82,899 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.473 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 84,5 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Giá vàng thế giới tăng mạnh nhất trong vòng 2 tháng do đồng USD suy yếu và nhu cầu phòng ngừa rủi ro tăng lên sau khi ông Donald Trump chính thức nhậm chức Tổng thống Mỹ. Trước đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tuyên bố sẽ áp thuế quan 10% lên hàng hóa Trung Quốc, 25% lên hàng hóa của Canada và Mexico, đồng thời nói sẽ đánh thuế quan đối với hàng hóa từ châu Âu. Một yếu tố khác khiến giá vàng thế giới tăng là do lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ giảm. Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho rằng các chính sách của ông Trump có thể đẩy lạm phát ở Mỹ tăng, khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) phải giữ lãi suất cao hơn lâu hơn. Môi trường lãi suất cao sẽ không có lợi cho giá của vàng. Ngoài ra giá vàng thế giới cũng sẽ gặp áp lực chốt lời khi giá lên cao. Do vậy khả năng giá vàng thế giới sẽ suy giảm trở lại vào những ngày tới.

Giá USD giảm sâu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng tăng mạnh trước kỳ nghỉ Tết
So với đầu năm, giá vàng miếng SJC đã tăng 5,5%. Ảnh: T.L

Tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước tăng mạnh tiến lên sát mốc 89 triệu đồng/lượng. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 24/1 giữ ở mức 88,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 86,9 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, tăng mạnh 2,9 triệu đồng so với tuần trước đó ở chiều bán ra. So với đầu năm, giá vàng miếng SJC đã tăng 5,5%, cao hơn tốc độ tăng của vàng thế giới từ đầu năm đến nay (tăng 4,9%).

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng tăng và tiến tới mốc 89 triệu đồng/lượng. Với mức tăng này giá vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục duy trì đà tăng cao tương đương với giá vàng miếng SJC. Thời điểm 16h giờ chiều ngày 24/1, tại DOJI giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 88,1 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 86,6 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 86,1 – 88,1 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 86,6 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 88,9 triệu đồng/lượng. So với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng 1,2 triệu đồng 1,6 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, tỷ giá lại có dấu hiệu nhích hạ nhiệt khi đồng USD có dấu diệu hạ nhiệt. Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 20/1 ghi nhận ở mức 24.341 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã giữ nguyên tỷ giá vào hôm thứ Ba và sau đó giảm mạnh tỷ giá vào các ngày còn lại của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.328 đồng/USD, giảm 13 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Còn tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng có xu hướng giảm mạnh. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.510 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank chỉ điều chỉnh giảm mạnh vào những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.320 đồng/USD, giảm 190 đồng/USD so với hôm đầu tuần./.

Chỉ số DXY tiếp tục có xu hướng giảm mạnh

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng giảm mạnh trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 24/1/2025, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 107,73 điểm, giảm 1,42 điểm so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,290 ▼160K 16,590 ▼160K
Kim TT/AVPL 16,290 ▼160K 16,590 ▼160K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,290 ▼160K 16,590 ▼160K
Nguyên Liệu 99.99 15,240 ▼160K 15,440 ▼160K
Nguyên Liệu 99.9 15,190 ▼160K 15,390 ▼160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,020 ▼180K 16,420 ▼180K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,970 ▼180K 16,370 ▼180K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,900 ▼180K 16,350 ▼180K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,800 ▼1500K 165,800 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 162,800 ▼1500K 165,800 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 162,800 ▼1500K 165,800 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 162,800 ▼1500K 165,800 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 162,800 ▼1500K 165,800 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,800 ▼1500K 165,800 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,290 ▼160K 16,590 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 16,290 ▼160K 16,590 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 16,290 ▼160K 16,590 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,290 ▼160K 16,590 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,290 ▼160K 16,590 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,290 ▼160K 16,590 ▼160K
NL 99.90 15,070 ▼80K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,120 ▼80K
Trang sức 99.9 15,780 ▼160K 16,480 ▼160K
Trang sức 99.99 15,790 ▼160K 16,490 ▼160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,629 ▼16K 1,659 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,629 ▼16K 16,592 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,629 ▼16K 16,593 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,624 ▲1460K 1,654 ▲1487K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,624 ▲1460K 1,655 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 ▲1443K 164 ▼1491K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 ▼1485K 162,376 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 ▼1125K 123,162 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 ▼1020K 111,681 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 ▼91302K 1,002 ▼100113K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 ▼874K 95,772 ▼874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 ▲53618K 68,545 ▲61628K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,629 ▼16K 1,659 ▼16K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,629 ▼16K 1,659 ▼16K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,629 ▼16K 1,659 ▼16K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,629 ▼16K 1,659 ▼16K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,629 ▼16K 1,659 ▼16K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,629 ▼16K 1,659 ▼16K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,629 ▼16K 1,659 ▼16K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,629 ▼16K 1,659 ▼16K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,629 ▼16K 1,659 ▼16K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,629 ▼16K 1,659 ▼16K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,629 ▼16K 1,659 ▼16K
Cập nhật: 11/05/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18490 18767 19342
CAD 18689 18967 19584
CHF 33123 33509 34153
CNY 0 3833 3925
EUR 30299 30573 31603
GBP 34945 35338 36282
HKD 0 3231 3433
JPY 160 164 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15329 15913
SGD 20193 20476 20998
THB 726 790 843
USD (1,2) 26061 0 0
USD (5,10,20) 26102 0 0
USD (50,100) 26131 26150 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,506 30,530 31,829
JPY 163.43 163.72 172.72
GBP 35,214 35,309 36,347
AUD 18,726 18,794 19,418
CAD 18,910 18,971 19,573
CHF 33,474 33,578 34,396
SGD 20,362 20,425 21,129
CNY - 3,804 3,929
HKD 3,301 3,311 3,433
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 777.89 787.5 838.66
NZD 15,360 15,503 15,884
SEK - 2,804 2,889
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,813 2,899
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.89 - 7,061.56
TWD 758.57 - 914.36
SAR - 6,910.66 7,242.9
KWD - 83,842 88,760
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,373
EUR 30,412 30,534 31,718
GBP 35,165 35,306 36,318
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,244 33,378 34,322
JPY 163.72 164.38 171.86
AUD 18,691 18,766 19,358
SGD 20,403 20,485 21,073
THB 794 797 832
CAD 18,884 18,960 19,535
NZD 15,424 15,960
KRW 17.16 18.86
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26373
AUD 18680 18780 19703
CAD 18878 18978 19994
CHF 33385 33415 34998
CNY 3813.1 3838.1 3973.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30498 30528 32250
GBP 35270 35320 37078
HKD 0 3355 0
JPY 163.98 164.48 175.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15448 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20355 20485 21213
THB 0 756 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16290000 16290000 16590000
SBJ 14000000 14000000 16590000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,130 26,180 26,373
USD20 26,130 26,180 26,373
USD1 26,130 26,180 26,373
AUD 18,723 18,823 19,950
EUR 30,647 30,647 32,090
CAD 18,815 18,915 20,243
SGD 20,428 20,578 21,490
JPY 164.57 166.07 170.77
GBP 35,157 35,507 36,656
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80