Thị trường tiền tệ tuần 13/01 - 17/01/2025:

Lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều, giá vàng miếng SJC tăng mạnh

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (13/01 - 17/01) là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố lãi suất liên ngân hàng có xu hướng biến động trái chiều ở các kỳ hạn chủ chốt. Tuần qua, giá vàng SJC tăng mạnh, trong khi đó, tỷ giá lại có dấu hiệu “hạ nhiệt”.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 29/7 – 2/8: Nhiều ngân hàng báo lãi kỷ lục, tỷ giá giảm mạnh vào cuối tuần Thị trường tiền tệ tuần 7-11/10: Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, tỷ giá nhích tăng, giá vàng nhẫn giảm sức “nóng”

Lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều

NHNN vừa công bố diễn biến thị trường ngoại tệ và thị trường liên ngân hàng. Theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài qua hệ thống báo cáo thống kê, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng trong kỳ bằng VND đạt xấp xỉ 1,99 triệu tỷ đồng, bình quân 398.569 tỷ đồng/ngày, giảm 108.205 tỷ đồng/ngày so với tuần trước.

Lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều, giá vàng miếng SJC tăng mạnh
Lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều. Ảnh: T.L

Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn việc xử lý tiền giả, tiền nghi giả

NHNN đã ban hành Thông tư 58/2024/TT-NHNN hướng dẫn về xử lý tiền giả, tiền nghi giả trong ngành ngân hàng. Thông tư quy định, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước (Sở Giao dịch), Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi phát hiện tiền giả trong giao dịch tiền mặt với khách hàng phải thu giữ theo quy định; khi phát hiện tiền nghi giả phải tạm thu giữ theo quy định; không trả lại tiền giả, tiền nghi giả cho khách hàng.

Theo kỳ hạn, các giao dịch VND chủ yếu tập trung vào kỳ hạn qua đêm (92% tổng doanh số giao dịch VND) và kỳ hạn 1 tuần (4% tổng doanh số giao dịch VND).

Đối với giao dịch USD, các kỳ hạn có doanh số lớn nhất cũng là kỳ hạn qua đêm và 1 tuần với tỷ trọng lần lượt 85% và 7%.

Đối với các giao dịch bằng VND, lãi suất có xu hướng biến động trái chiều ở các kỳ hạn chủ chốt. Cụ thể, lãi suất bình quân kỳ hạn qua đêm và 1 tháng tăng tương ứng 0,29%/năm và 0,19%/năm lên mức 4,11%/năm và 4,74%/năm. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 1 tuần giảm 0,31%/năm xuống mức 4,39%/năm.

Đối với các giao dịch USD, lãi suất bình quân có xu hướng giảm nhẹ ở các kỳ hạn dưới 1 tháng và tăng nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn từ 1 tháng trở lên.

Cụ thể, lãi suất kỳ hạn qua đêm và 1 tuần giảm khoảng 0,04 - 0,05%/năm, lần lượt xuống mức 4,35%/năm và 4,41%/năm. Ngược lại, kỳ hạn 1 tháng lãi suất tăng 0,05%/năm lên mức 4,52%/năm.

Trong báo cáo kinh tế vĩ mô mới đây, Chứng khoán MB (MBS) đã phân tích những động thái linh hoạt của NHNN trong điều tiết thanh khoản hệ thống nhằm kiểm soát áp lực tỷ giá gia tăng vào cuối năm 2024. Theo đó, tháng 12/2024, NHNN đã phát hành gần 123,7 nghìn tỷ đồng tín phiếu với lãi suất dao động từ 3,9% - 4%, kỳ hạn 7, 14 và 28 ngày, đồng thời bơm khoảng 172 nghìn tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO) với lãi suất 4% cho kỳ hạn 7-14 ngày. Kết quả, lượng bơm ròng trong tháng đạt 12,8 nghìn tỷ đồng, giảm mạnh gần 7 lần so với tháng trước.

Động thái này giúp giữ mặt bằng lãi suất liên ngân hàng ở mức cao vừa phải, qua đó giảm áp lực lên tỷ giá trong bối cảnh đồng USD tăng giá mạnh.

Lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng trong tháng 12 khởi đầu ở mức 4%, giảm xuống mức thấp nhất trong 7 tháng tại 2,4% vào ngày 19/12 nhờ thanh khoản dồi dào từ NHNN. Tuy nhiên, sau khi NHNN bán ra lượng lớn USD để can thiệp thị trường, lãi suất đã tăng trở lại lên 4% vào ngày 27/12 và kết thúc tháng ở mức 3,6%. Các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng dao động trong khoảng 4,4% - 4,7%.

Giá vàng SJC tăng mạnh, tỷ giá "hạ nhiệt"

Thị trường kim loại quý trong tuần này tăng mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 17/1/2025, giá vàng giao ngay dừng tại mốc 2.714,54 USD/ounce, tăng hơn 44 USD/ounce so với tuần trước đó. Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, vàng thế giới có giá khoảng 82,428 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.534 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 83,5 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều, giá vàng miếng SJC tăng mạnh
Giá vàng miếng SJC mạnh trong tuần qua. Ảnh: T.L

Tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước tăng mạnh tiến lên vượt mốc 87,3 triệu đồng/lượng. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 10/1 giữ ở mức 86 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 85,3 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, tăng 1,3 triệu đồng so với tuần trước đó.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng tăng và tiến tới mốc 87,2 triệu đồng/lượng. Với mức tăng này giá vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục duy trì đà tăng cao tương đương với giá vàng miếng SJC. Thời điểm 16h giờ chiều ngày 17/1, tại DOJI giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 86,8 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 85,3 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 85,2 – 86,7 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 85,75 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 87,25 triệu đồng/lượng. So với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng 500 nghìn đồng - 850 nghìn đồng/lượng.

Theo giới phân tích, giá vàng tăng động mạnh do nhà đầu tư lo ngại thị trường tài chính có thể xảy ra những bất ổn liên quan đến chính sách kinh tế, sau khi Tổng thống Mỹ đắc cử Donald Trump nhậm chức vào tuần tới.

Theo đó, nhiều người đã tăng nhu cầu trú ẩn vốn vào vào kim loại quý này. Giá vàng hôm nay đương nhiên tăng mạnh. Trong khi đó, đồng USD tiếp tục giảm giá, giúp giá vàng thế giới trở nên rẻ hơn đối với những người nắm giữ các đồng tiền khác.

Trong khi đó, tỷ giá lại có dấu hiệu nhích tăng trước áp lực tăng giá của đồng USD. Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 13/1 ghi nhận ở mức 24.341 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh tăng nhẹ tỷ giá vào hôm thứ Ba và hôm thứ Tư sau đó giảm mạnh tỷ giá vào ngày thứ Sáu cuối tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.333 đồng/USD, giảm 8 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Còn tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng có xu hướng giảm nhẹ. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.558 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank chỉ điều chỉnh tăng nhẹ vào ngày thứ Ba và thứ Tư sau đó giảm vào những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.549 đồng/USD, giảm 9 đồng/USD so với hôm đầu tuần./.

Chỉ số DXY tiếp tục có xu hướng đi ngang

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng đi ngang trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 17/1/2025, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 109,15 điểm, không đổi so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần

Mai Tấn

Đọc thêm

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼550K 16,000 ▼550K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼550K 15,950 ▼550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼350K 16,950 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼350K 16,900 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼350K 16,880 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,670 ▼600K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700 ▼600K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17741 18014 18592
CAD 18522 18799 19416
CHF 32608 32992 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29820 30092 31120
GBP 34375 34766 35700
HKD 0 3237 3439
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14944 15527
SGD 19984 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26357
AUD 17914 18014 18942
CAD 18694 18794 19810
CHF 32851 32881 34459
CNY 3754.3 3779.3 3914.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30000 30030 31756
GBP 34667 34717 36469
HKD 0 3355 0
JPY 161.64 162.14 172.68
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15040 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20140 20270 21005
THB 0 747.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16850000 16850000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80