Thị trường tiền tệ tuần 13/01 - 17/01/2025:

Lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều, giá vàng miếng SJC tăng mạnh

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý trên thị trường tiền tệ tuần qua (13/01 - 17/01) là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố lãi suất liên ngân hàng có xu hướng biến động trái chiều ở các kỳ hạn chủ chốt. Tuần qua, giá vàng SJC tăng mạnh, trong khi đó, tỷ giá lại có dấu hiệu “hạ nhiệt”.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 29/7 – 2/8: Nhiều ngân hàng báo lãi kỷ lục, tỷ giá giảm mạnh vào cuối tuần Thị trường tiền tệ tuần 7-11/10: Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, tỷ giá nhích tăng, giá vàng nhẫn giảm sức “nóng”

Lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều

NHNN vừa công bố diễn biến thị trường ngoại tệ và thị trường liên ngân hàng. Theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài qua hệ thống báo cáo thống kê, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng trong kỳ bằng VND đạt xấp xỉ 1,99 triệu tỷ đồng, bình quân 398.569 tỷ đồng/ngày, giảm 108.205 tỷ đồng/ngày so với tuần trước.

Lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều, giá vàng miếng SJC tăng mạnh
Lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều. Ảnh: T.L

Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn việc xử lý tiền giả, tiền nghi giả

NHNN đã ban hành Thông tư 58/2024/TT-NHNN hướng dẫn về xử lý tiền giả, tiền nghi giả trong ngành ngân hàng. Thông tư quy định, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước (Sở Giao dịch), Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi phát hiện tiền giả trong giao dịch tiền mặt với khách hàng phải thu giữ theo quy định; khi phát hiện tiền nghi giả phải tạm thu giữ theo quy định; không trả lại tiền giả, tiền nghi giả cho khách hàng.

Theo kỳ hạn, các giao dịch VND chủ yếu tập trung vào kỳ hạn qua đêm (92% tổng doanh số giao dịch VND) và kỳ hạn 1 tuần (4% tổng doanh số giao dịch VND).

Đối với giao dịch USD, các kỳ hạn có doanh số lớn nhất cũng là kỳ hạn qua đêm và 1 tuần với tỷ trọng lần lượt 85% và 7%.

Đối với các giao dịch bằng VND, lãi suất có xu hướng biến động trái chiều ở các kỳ hạn chủ chốt. Cụ thể, lãi suất bình quân kỳ hạn qua đêm và 1 tháng tăng tương ứng 0,29%/năm và 0,19%/năm lên mức 4,11%/năm và 4,74%/năm. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 1 tuần giảm 0,31%/năm xuống mức 4,39%/năm.

Đối với các giao dịch USD, lãi suất bình quân có xu hướng giảm nhẹ ở các kỳ hạn dưới 1 tháng và tăng nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn từ 1 tháng trở lên.

Cụ thể, lãi suất kỳ hạn qua đêm và 1 tuần giảm khoảng 0,04 - 0,05%/năm, lần lượt xuống mức 4,35%/năm và 4,41%/năm. Ngược lại, kỳ hạn 1 tháng lãi suất tăng 0,05%/năm lên mức 4,52%/năm.

Trong báo cáo kinh tế vĩ mô mới đây, Chứng khoán MB (MBS) đã phân tích những động thái linh hoạt của NHNN trong điều tiết thanh khoản hệ thống nhằm kiểm soát áp lực tỷ giá gia tăng vào cuối năm 2024. Theo đó, tháng 12/2024, NHNN đã phát hành gần 123,7 nghìn tỷ đồng tín phiếu với lãi suất dao động từ 3,9% - 4%, kỳ hạn 7, 14 và 28 ngày, đồng thời bơm khoảng 172 nghìn tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO) với lãi suất 4% cho kỳ hạn 7-14 ngày. Kết quả, lượng bơm ròng trong tháng đạt 12,8 nghìn tỷ đồng, giảm mạnh gần 7 lần so với tháng trước.

Động thái này giúp giữ mặt bằng lãi suất liên ngân hàng ở mức cao vừa phải, qua đó giảm áp lực lên tỷ giá trong bối cảnh đồng USD tăng giá mạnh.

Lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng trong tháng 12 khởi đầu ở mức 4%, giảm xuống mức thấp nhất trong 7 tháng tại 2,4% vào ngày 19/12 nhờ thanh khoản dồi dào từ NHNN. Tuy nhiên, sau khi NHNN bán ra lượng lớn USD để can thiệp thị trường, lãi suất đã tăng trở lại lên 4% vào ngày 27/12 và kết thúc tháng ở mức 3,6%. Các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng dao động trong khoảng 4,4% - 4,7%.

Giá vàng SJC tăng mạnh, tỷ giá "hạ nhiệt"

Thị trường kim loại quý trong tuần này tăng mạnh trên cả thị trường thế giới và trong nước. Tại thời điểm đầu giờ sáng ngày 17/1/2025, giá vàng giao ngay dừng tại mốc 2.714,54 USD/ounce, tăng hơn 44 USD/ounce so với tuần trước đó. Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, vàng thế giới có giá khoảng 82,428 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (25.534 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 83,5 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều, giá vàng miếng SJC tăng mạnh
Giá vàng miếng SJC mạnh trong tuần qua. Ảnh: T.L

Tương tự như giá vàng thế giới, tuần qua giá vàng trong nước tăng mạnh tiến lên vượt mốc 87,3 triệu đồng/lượng. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 10/1 giữ ở mức 86 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 85,3 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, tăng 1,3 triệu đồng so với tuần trước đó.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng tăng và tiến tới mốc 87,2 triệu đồng/lượng. Với mức tăng này giá vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục duy trì đà tăng cao tương đương với giá vàng miếng SJC. Thời điểm 16h giờ chiều ngày 17/1, tại DOJI giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 86,8 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 85,3 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 85,2 – 86,7 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 85,75 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 87,25 triệu đồng/lượng. So với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng 500 nghìn đồng - 850 nghìn đồng/lượng.

Theo giới phân tích, giá vàng tăng động mạnh do nhà đầu tư lo ngại thị trường tài chính có thể xảy ra những bất ổn liên quan đến chính sách kinh tế, sau khi Tổng thống Mỹ đắc cử Donald Trump nhậm chức vào tuần tới.

Theo đó, nhiều người đã tăng nhu cầu trú ẩn vốn vào vào kim loại quý này. Giá vàng hôm nay đương nhiên tăng mạnh. Trong khi đó, đồng USD tiếp tục giảm giá, giúp giá vàng thế giới trở nên rẻ hơn đối với những người nắm giữ các đồng tiền khác.

Trong khi đó, tỷ giá lại có dấu hiệu nhích tăng trước áp lực tăng giá của đồng USD. Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 13/1 ghi nhận ở mức 24.341 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh tăng nhẹ tỷ giá vào hôm thứ Ba và hôm thứ Tư sau đó giảm mạnh tỷ giá vào ngày thứ Sáu cuối tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.333 đồng/USD, giảm 8 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Còn tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng có xu hướng giảm nhẹ. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.558 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank chỉ điều chỉnh tăng nhẹ vào ngày thứ Ba và thứ Tư sau đó giảm vào những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.549 đồng/USD, giảm 9 đồng/USD so với hôm đầu tuần./.

Chỉ số DXY tiếp tục có xu hướng đi ngang

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY có xu hướng đi ngang trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 17/1/2025, chỉ số DXY ghi nhận ở mức 109,15 điểm, không đổi so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần

Mai Tấn

Đọc thêm

MB - Ngân hàng  top đầu Cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm

MB - Ngân hàng top đầu Cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm

(TBTCO) - Trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động phức tạp, doanh nghiệp ngày càng cần nguồn vốn thông minh để duy trì vận hành hiệu quả và nắm bắt cơ hội tăng trưởng, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) ghi nhận vị thế top đầu cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME tại các ngành kinh tế trọng điểm, theo dữ liệu cập nhật từ Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia (CIC).
Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

(TBTCO) - Sáng ngày 7/5, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm 40 đồng xuống quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Còn DXY nhích nhẹ lên 98,03 điểm sau khi rơi dưới mốc 98 điểm, nhờ kỳ vọng căng thẳng Trung Đông hạ nhiệt, eo biển Hormuz có thể được mở cửa trở lại và áp lực trú ẩn vào USD suy yếu.
Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

(TBTCO) - Làn sóng tham gia Trung tâm Tài chính quốc tế nóng lên tại mùa đại hội cổ đông ngân hàng năm nay, khi nhiều nhà băng lớn lên kế hoạch thành lập ngân hàng con để mở rộng sang các mảng mới, về thanh toán xuyên biên giới, tài sản số, thị trường vốn quốc tế... Tuy nhiên, để tham gia “sân chơi” này, các ngân hàng phải đáp ứng loạt điều kiện chặt chẽ.
Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

(TBTCO) - Ngay khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố bộ nhận diện thương hiệu mới tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, cộng đồng khách hàng và giới quan sát thị trường đã nhanh chóng bày tỏ nhiều phản hồi tích cực.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh. Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp khoảng 28 lần GDP, trong quý I/2026, số lượng giao dịch tăng 37,98% và giá trị tăng 14,22% cùng kỳ. Đáng chú ý, nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận hơn 90% giao dịch thực hiện qua kênh số, phản ánh xu hướng số hóa ngày càng rõ nét.
Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

(TBTCO) - Theo Ngân hàng Nhà nước, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán luôn được quan tâm chú trọng, song hành với chuyển đổi số. Hệ thống SIMO đã triển khai tới 149 đơn vị, cảnh báo hơn 3,8 triệu lượt khách hàng, giúp ngăn chặn giao dịch rủi ro trị giá trên 4,3 nghìn tỷ đồng. Đồng thời, dữ liệu từ 156,6 triệu hồ sơ khách hàng đã được đối chiếu, làm sạch.
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Kim TT/AVPL 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 15,400 ▲150K 15,600 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 15,350 ▲150K 15,550 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 ▲150K 16,600 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 ▲150K 16,550 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 ▲150K 16,530 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,940 ▲150K 16,640 ▲150K
Trang sức 99.99 15,950 ▲150K 16,650 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 07/05/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18562 18839 19414
CAD 18774 19052 19668
CHF 33179 33565 34206
CNY 0 3827 3920
EUR 30332 30606 31634
GBP 35029 35423 36355
HKD 0 3228 3430
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15413 16001
SGD 20243 20527 21055
THB 735 798 851
USD (1,2) 26044 0 0
USD (5,10,20) 26085 0 0
USD (50,100) 26114 26133 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,118 26,118 26,368
USD(1-2-5) 25,074 - -
USD(10-20) 25,074 - -
EUR 30,463 30,487 31,784
JPY 164.05 164.35 173.39
GBP 35,213 35,308 36,345
AUD 18,756 18,824 19,438
CAD 18,978 19,039 19,643
CHF 33,436 33,540 34,348
SGD 20,369 20,432 21,131
CNY - 3,801 3,927
HKD 3,300 3,310 3,431
KRW 16.72 17.44 18.88
THB 777.92 787.53 839.47
NZD 15,373 15,516 15,898
SEK - 2,804 2,890
DKK - 4,077 4,199
NOK - 2,787 2,872
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,306.02 - 7,085.34
TWD 758.86 - 914.71
SAR - 6,911.29 7,242.98
KWD - 83,791 88,706
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,360 30,482 31,665
GBP 35,154 35,295 36,308
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,196 33,329 34,276
JPY 164.47 165.13 172.67
AUD 18,687 18,762 19,359
SGD 20,398 20,480 21,068
THB 795 798 833
CAD 18,953 19,029 19,607
NZD 15,419 15,955
KRW 17.37 19.11
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26368
AUD 18709 18809 19734
CAD 18952 19052 20067
CHF 33413 33443 35017
CNY 3806.5 3831.5 3967
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30493 30523 32248
GBP 35292 35342 37103
HKD 0 3355 0
JPY 165.08 165.58 176.09
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15481 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20384 20514 21244
THB 0 761.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16660000
SBJ 14000000 14000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,188 26,368
USD20 26,138 26,188 26,368
USD1 26,138 26,188 26,368
AUD 18,802 18,902 20,011
EUR 30,654 30,654 32,063
CAD 18,904 19,004 20,315
SGD 20,479 20,629 21,193
JPY 165.34 166.84 171.38
GBP 35,229 35,579 36,696
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 799 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/05/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80