Ngân hàng Nhà nước xoay xở thế nào với 15 tỷ USD?

Chính Trung
Ngân hàng Nhà nước đã trở lại mua vào ngoại tệ, trong bối cảnh những vấn đề đi cùng với chuỗi mua vào 15 tỷ USD vẫn đang gây sức ép phải xử lý.
aa

Ngân hàng Nhà nước như đã nối lại hoạt động mua vào ngoại tệ từng bị gián đoạn từ đầu quý 2/2013. Ảnh: T.L

Ngày 7/8 vừa qua, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước nâng mạnh giá mua vào USD, từ 20.826 VND lên 21.100 VND. Theo tìm hiểu của TBTCO, sau điều chỉnh đó, cuối tuần qua và đầu tuần này, Ngân hàng Nhà nước đã nối lại hoạt động mua vào ngoại tệ từng bị gián đoạn từ đầu quý 2/2013.

Trước đó, khoảng 15 tỷ USD mua vào khá liền mạch trong gần hai năm trước đã và đang đặt ra nhiều áp lực phải cân đối.

Ám ảnh của quá khứ

Năm 2007, thị trường chứng khoán Việt Nam bùng nổ với sự kiện gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Vốn ngoại đổ vào như đến với một miền đất hứa. Và lịch sử ghi nhận ứng xử của chính sách tiền tệ với dòng chảy này.

Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới tại thời điểm đó, chỉ riêng trong quý 1/2007, Ngân hàng Nhà nước đã mua vào lượng ngoại tệ khoảng 3 tỷ USD. Đó là một quy mô hiếm thấy, được xem là cơ hội để cải thiện nhanh dự trữ ngoại hối quốc gia. Lợi ích là rõ ràng.

Nhưng, với thị trường và giới quan sát, điều quan trọng hơn là Ngân hàng Nhà nước đã ứng xử với nó như thế nào, đặt trong nhiều cân đối vĩ mô như kiềm chế lạm phát, điều hành chính sách tỷ giá phù hợp… Mua vào 3 tỷ USD đồng nghĩa với việc cung ra khoảng 50 nghìn tỷ đồng theo tỷ giá quy đổi lúc đó. Một lượng cung tiền lớn dồn trong thời gian ngắn, áp lực đối với lạm phát là dễ hiểu.

Một mặt mua vào ngoại tệ, một mặt Ngân hàng Nhà nước đã tăng gấp đôi tỷ lệ dự trữ ngoại tệ, nhanh chóng hút một lượng lớn tiền về. Nhưng, đến nay, 2007 vẫn trở thành một năm ám ảnh trong quá khứ, khi lạm phát tăng đột biến và lãi suất khởi động một cuộc đua chóng mặt.

Năm 2006, lạm phát của Việt Nam chỉ 6,6%. Năm 2007, mục tiêu ban đầu, và dường như thụ động với biến số mua vào lượng lớn ngoại tệ đó, là kiềm chế ở 6,5%. Kết quả, lạm phát 2007 bùng nổ tới 12,6%, đánh dấu kỳ bất ổn của giá cả kéo dài cho mãi đến 2011. Đi cùng với lạm phát là lãi suất, ngay sau đó, năm 2008 đỉnh điểm ghi nhận lãi suất huy động trên thị trường có lúc lên tới trên 19%/năm!

Có nhiều yếu tố tác động và cộng hưởng, song việc mua vào lượng lớn ngoại tệ cùng quyết định tăng mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một nhân tố chính tạo nên ám ảnh lạm phát 2007 và sau đó là sự leo thang của lãi suất.

Khác biệt của 15 tỷ USD

Sau khi vốn ngoại đảo chiều trong năm 2008, nối tiếp là ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu và dự trữ ngoại hối liên tục “chảy máu”, phải đến đầu quý 2/2011 hoạt động mua vào ngoại tệ mới thực sự trở lại.

Ngày 29/4/2011, hơn hai tháng sau sự kiện tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng một bước kỷ lục 9,3% (ngày 11/2/2011), Sổ Giao dịch Ngân hàng Nhà nước nâng mạnh giá mua vào USD để chặn đà rơi của tỷ giá. Từ đó cho đến cuối quý 1/2013, ước tính đã có khoảng 15 tỷ USD được mua vào. Khoảng 300 nghìn tỷ đồng cung ra đối ứng, xử lý các áp lực liên quan có thể gợi đến nỗi ám ảnh của năm 2007.

Tuy nhiên, khác biệt đầu tiên là 15 tỷ USD đó được trải ra trong một quãng thời gian dài hơn, áp lực được giãn ra và chính sách có điều kiện hơn để ứng xử.

Khác biệt căn bản nhất là Ngân hàng Nhà nước đã đi theo con đường khác. Thay vì tăng mạnh và đột ngột tỷ lệ dự trữ bắt buộc như năm 2007, nhà điều hành sử dụng các công cụ khác, đặc biệt là tín phiếu để hút tiền về, linh hoạt kỳ hạn và thời điểm; thêm đó là hạn chế cung vốn qua các kênh khác, như giảm hẳn kênh tái cấp vốn.

Một số nguồn tin trong cuộc ước tính rằng, trong khoảng 300 nghìn tỷ đồng đó thì phân nửa đã được hút về, còn lại nó đọng trong nền kinh tế. Dễ nhận thấy một biểu hiện đều đặn trong hai năm qua là tăng trưởng cung tiền ở mức khá cao, thanh khoản hệ thống ngân hàng ổn định và có biểu hiện dư thừa.

Nếu năm 2007, 3 tỷ USD nói trên là vốn của nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước mua vào và cung tiền ra, song lại “khóa hẳn” phần đưa ra trong kho qua nâng dự trữ bắt buộc. Phản ứng trên thị trường là thanh khoản căng và lãi suất tăng nhanh. Còn nay, vốn của thị trường vẫn được điều tiết cho thị trường, thanh khoản tốt và lãi suất hạ.

Khác biệt nữa là năm 2007 nền kinh tế vào đà tăng trưởng, sức hấp thụ vốn tốt và tăng trưởng tín dụng bùng nổ tới 51,39% - một tác nhân gây lạm phát cao. Còn nay, nền kinh tế trải qua nhiều khó khăn, sức hấp thụ và sức cầu kém đi, tăng trưởng tín dụng hai năm liên tiếp chật vật ở khoảng 10 - 12%, lạm phát hạ nhiệt.

Tất nhiên, có nhiều yếu tố, hay các mối quan hệ khác tác động đến lạm phát tại hai kỳ so sánh này. Nhưng dù sao, việc Ngân hàng Nhà nước vừa mua vào được 15 tỷ USD để cải thiện dự trữ ngoại hối, vừa kiềm chế được lạm phát, giữ ổn định được tỷ giá, có thể nói là thành công.

Guồng quay chưa dừng…

Nếu trong quý 1/2007, 3 tỷ USD mua vào thì 50 nghìn tỷ đồng đối ứng được xử lý khá dứt điểm và gọn qua tăng mạnh dự trữ bắt buộc, thì guồng quay xử lý 15 tỷ USD sau này vẫn chưa dừng.

Cứ cho Ngân hàng Nhà nước thời gian qua đã hút về 150 nghìn tỷ đồng, chủ yếu qua kênh tín phiếu. Vậy thì, dòng tiền nó vẫn đều đặn đến hẹn trở về. Đặc điểm của tín phiếu mà nhà điều hành phát hành thời gian qua là rất ngắn, các kỳ hạn phổ biến không quá 3 tháng. 150 nghìn tỷ đồng đó liên tục quay vòng, hút – đáo hạn – hút, áp lực cung tiền là luôn thường trực.

Dĩ nhiên, dễ thấy là Ngân hàng Nhà nước vẫn đang một mực đi con đường đó, không dùng liệu pháp mạnh là tăng dự trữ bắt buộc, nên tín phiếu vẫn là công cụ chủ lực, và bốn tháng qua có thêm kênh hút tiền qua đấu thầu vàng.

Cuối tuần qua và đầu tuần này, hoạt động mua vào ngoại tệ có triển vọng được nối lại. Guồng quay trên có thể lại nới thêm. Bên cạnh yêu cầu cân đối cung tiền với lạm phát, giữ ổn định tỷ giá, hạn chế tác động tiêu cực đến lãi suất, một yếu tố bên lề là chi phí Ngân hàng Nhà nước phải bỏ ra để tạo và giữ được guồng quay đó.

Chỉ riêng tín phiếu, cứ cho lãi suất phải trả thời gian qua và sắp tới là 5 - 6%/năm, với quy mô và tần suất của guồng quay đó, chi phí hẳn rất lớn. Cho nên, 3 tỷ USD hay 15 tỷ USD là cái được cho dự trữ ngoại hối, nhưng đâu phải là được hẳn!

Chính Trung

Chính Trung

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (16/9): USD phân hóa, Fed có thể “nhập cuộc” sau 25 ngân hàng trung ương tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (16/9): USD phân hóa, Fed có thể “nhập cuộc” sau 25 ngân hàng trung ương tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 16/9, tỷ giá trung tâm tăng 9 đồng lên 25.626 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do đi xuống; còn chỉ số DXY tăng 0,06% lên 99,7 điểm. Thị trường kỳ vọng Fed tăng lãi suất tuần này. Theo BNP Paribas (Pháp), lãi suất toàn cầu đang đi ba hướng, với 25 trong gần 90 ngân hàng trung ương được theo dõi đã tăng lãi suất từ đầu năm.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

(TBTCO) - BVBank dự kiến chào bán 320,41 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động hơn 3.204 tỷ đồng, qua đó, có thể nâng vốn điều lệ thêm 50% lên hơn 9.612 tỷ đồng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, song chất lượng tài sản chịu áp lực.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,900 ▲600K 145,900 ▲600K
Hà Nội - PNJ 142,900 ▲600K 145,900 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 142,900 ▲600K 145,900 ▲600K
Miền Tây - PNJ 142,900 ▲600K 145,900 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 142,900 ▲600K 145,900 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,900 ▲600K 145,900 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,290 ▲60K 14,590 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,290 ▲60K 14,590 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,290 ▲60K 14,590 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,290 ▲60K 14,640 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,290 ▲60K 14,640 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,290 ▲60K 14,640 ▲60K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,950 ▲60K 14,550 ▲60K
Trang sức 99.99 13,960 ▲60K 14,560 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,429 ▲6K 14,592 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,429 ▲6K 14,593 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,424 ▲6K 1,454 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,424 ▲6K 1,455 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,399 ▲6K 1,444 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,597 ▼121779K 14,297 ▼128079K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,661 ▲450K 108,461 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,552 ▲408K 98,352 ▲408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,443 ▲366K 88,243 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,544 ▲350K 84,344 ▲350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,571 ▲250K 60,371 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Cập nhật: 16/09/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17984 18259 18832
CAD 18116 18391 19009
CHF 31080 31458 32099
CNY 0 3829 3924
EUR 29352 29573 30650
GBP 34214 34605 35539
HKD 0 3181 3383
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14621 15211
SGD 19866 20148 20715
THB 697 760 813
USD (1,2) 25717 0 0
USD (5,10,20) 25756 0 0
USD (50,100) 25784 25798 26163
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,403 29,427 30,824
JPY 162.81 163.1 172.97
GBP 34,396 34,489 35,682
AUD 18,178 18,244 18,935
CAD 18,305 18,364 19,044
CHF 31,346 31,443 32,365
SGD 19,993 20,055 20,840
CNY - 3,798 3,932
HKD 3,246 3,256 3,392
KRW 17.56 18.31 19.91
THB 745.45 754.66 808.04
NZD 14,610 14,746 15,183
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,944 4,083
NOK - 2,733 2,830
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,938.74 - 6,711.39
TWD 738.08 - 894.22
SAR - 6,800.64 7,163.6
KWD - 82,364 87,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,398 29,516 30,712
GBP 34,354 34,492 35,521
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,158 31,283 32,218
JPY 163.09 163.74 171.72
AUD 18,168 18,241 18,834
SGD 20,038 20,118 20,709
THB 760 763 800
CAD 18,306 18,380 18,970
NZD 14,678 15,221
KRW 18.12 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26170
AUD 18160 18260 19183
CAD 18294 18394 19410
CHF 31313 31343 32924
CNY 3810.8 3835.8 3971.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29527 29557 31280
GBP 34507 34557 36317
HKD 0 3305 0
JPY 163.77 164.27 174.8
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14725 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20016 20146 20878
THB 0 726.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,660 25,780 26,155
USD20 25,630 25,780 26,155
USD1 24,345 25,780 26,907
AUD 18,195 18,295 19,417
EUR 29,278 29,378 31,056
CAD 18,225 18,325 19,645
SGD 20,077 20,227 20,794
JPY 164.01 165.51 171.15
GBP 34,349 34,499 35,584
XAU 14,228,000 0 14,532,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 760 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/09/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30