Ngân hàng Việt và hành trình vươn tầm quốc tế

(TBTCO) - Mang sứ mệnh, khát vọng trở thành những định chế tài chính hàng đầu trong khu vực, vươn tầm thế giới, các ngân hàng Việt Nam đã và đang mở rộng quy mô về vốn, tài sản và mạng lưới ra nước ngoài. Nhờ hội tụ đủ năng lực tài chính, sức mạnh và thương hiệu, những “cánh chim” đầu đàn của hệ thống ngân hàng được các tổ chức quốc tế xếp hạng vị trí ngày càng cao.
aa

Ngân hàng Việt tăng cường nội lực

Những năm gần đây, các ngân hàng Việt Nam đã liên tục tăng trưởng vốn và tài sản mạnh mẽ nhằm tăng cường năng lực tài chính, từ đó gia tăng nguồn vốn trung, dài hạn để mở rộng hoạt động kinh doanh và thị phần.

Theo số liệu thống kê từ báo cáo tài chính quý IV/2022 của 28 ngân hàng, tổng tài sản của các ngân hàng này đạt hơn 12,7 triệu tỷ đồng, tăng 17% so với năm 2021. Trong đó, 10 ngân hàng có quy mô tài sản lớn nhất đang nắm giữ 9,97 triệu tỷ đồng, tương ứng với 77,5% tổng tài sản các ngân hàng được thống kê. Theo đó, 10 ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất có sự góp mặt của BIDV, Vietcombank, VietinBank, MB, Techcombank, VPBank, ACB, SHB, Sacombank và HDBank.

Trong các ngân hàng này, nhóm ngân hàng quốc doanh BIDV, Vietcombank, VietinBank đã tăng trưởng tổng tài sản tăng từ 18% - 28%; nhóm ngân hàng cổ phần tư nhân gồm: Techcombank, MB, ACB, SHB, Sacombank, HDBank ghi nhận tăng tổng tài sản từ 9% - 15%.

Song song với việc tăng vốn và tài sản, các ngân hàng trên cũng đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế trong quản trị rủi ro theo Basel II và tự xây dựng cho chính mình một “bộ đệm” vững chắc để có thể đối phó với những rủi ro tín dụng, vận hành, thị trường và cả dự trữ để dự phòng cho những rủi ro không thể lường trước được.

Nhờ củng cố, tăng cường nội lực, đáp ứng theo chuẩn mực quốc tế, thời gian qua, nhiều ngân hàng Việt đã được các tổ chức, định chế tài chính quốc tế lớn như World Bank, IFC, ADB đánh giá cao và bắt tay đầu tư, tài trợ thương mại với những gói hợp tác giá trị cao. Những ngân hàng nội sáng giá, lọt vào "mắt xanh" của các định chế tài chính quốc tế có thể kể đến BIDV, Vietinbank, Techcombank, SHB, VIB, SeaBank,…

Theo các chuyên gia kinh tế, vốn điều lệ và tổng tài sản cao là “bộ đệm” giúp cho các ngân hàng có thêm nguồn lực để chống chọi với những khó khăn, thách thức; đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung phục hồi hoạt động sản xuất - kinh doanh. Bên cạnh đó, một số ngân hàng với sứ mệnh chính trị, khát vọng vươn tầm quốc tế, thì việc tăng vốn hết sức quan trọng để mở rộng thị phần ra nước ngoài, trở thành ngân hàng hàng đầu trong khu vực và thế giới.

Vươn mình ra khu vực và thế giới

Trong Top 10 ngân hàng có vốn và tổng tài sản lớn nhất hệ thống hiện nay, thì Vietcombank, BIDV, VietinBank, MB, SHB, HDBank và Sacombank là những ngân hàng đã và đang mở rộng thị phần ra nước ngoài thông qua mở ngân hàng con, ngân hàng 100% vốn, chi nhánh và văn phòng đại diện (VPĐD).

Cụ thể, Vietcombank mở chi nhánh tại Úc; VPĐD tại Mỹ, Hồng Kông, Singapore; Ngân hàng con tại Lào. BIDV có VPĐD tại Cộng hòa Séc, Campuchia, Lào, Myanmar, Đài Loan, Nga. MB có chi nhánh ở Campuchia, Lào. Sacombank có ngân hàng con tại Lào và Campuchia. HDBank có VPĐD tại Myanmar. SHB có 02 chi nhánh tại Lào; ngân hàng 100% vốn tại Campuchia.

Trong đó, BIDV, Vietcombank, SHB là những đại diện có sứ mệnh, tầm vóc và mở rộng thị phần tại nước ngoài sớm và mạnh mẽ nhất, đặc biệt tại thị trường Lào và Campuchia.

Xét về sự hiệu quả khi hoạt động tại thị trường ở nước ngoài, SHB là một trong những ngân hàng TMCP tư nhân Việt Nam mở rộng thị phần ra nước ngoài sớm và hiệu quả nhất. Nhờ việc sớm "xuất ngoại" giúp SHB chiếm thị phần không nhỏ trong hoạt động tín dụng tại hai quốc gia này. Những năm trước đó, thị trường nước ngoài đều mang về cho SHB hàng trăm tỷ đồng doanh thu và lợi nhuận mỗi năm.

Ngân hàng Việt và hành trình vươn tầm quốc tế
Ngân hàng Việt và hành trình vươn tầm quốc tế

Theo đại diện SHB, trong quá trình phát triển, SHB luôn mang trong mình tâm thế và sứ mệnh của một trong những ngân hàng thương mại Top đầu, thể hiện “Khát vọng dẫn đầu” với tôn chỉ “Phụng sự từ Tâm” trong mọi hoạt động, tạo nên giá trị khác biệt trên thị trường. Triết lý thương hiệu của SHB là luôn tâm niệm phụng sự quốc gia, cộng đồng và khách hàng, từ đó đưa ngân hàng vươn xa và dẫn đầu các lĩnh vực hoạt động, hướng tới vị trí một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam, vươn tầm khu vực.

Xét ở góc độ đánh giá từ các tổ chức quốc tế uy tín, gần đây, Công ty tư vấn định giá thương hiệu hàng đầu thế giới Brand Finance đã công bố Bảng xếp hạng 500 ngân hàng đứng đầu thế giới về giá trị thương hiệu năm 2023, Việt Nam có 12 ngân hàng lọt vào bảng Banking 500 2023 Ranking. gồm: Vietcombank, Agribank, BIDV, Techcombank, VietinBank, VPBank, MB, SHB, ACB, Sacombank, HDBank và VIB.

Với 12 ngân hàng lọt vào bảng Banking 500 2023 Ranking, Việt Nam đứng đầu khu vực ASEAN về số lượng nhà băng lọt Top500. Kế tiếp là Indonesia và Philippines (cùng có 9 ngân hàng), Malaysia (8 ngân hàng), Thái Lan (6 ngân hàng) và Singapore (3 ngân hàng).

Báo cáo Brand Finance Banking 2023 cho rằng, các thương hiệu ngân hàng trên toàn cầu đã tiếp tục phục hồi đáng kể sau đại dịch COVID-19, có sự cải thiện trong các dịch vụ ngân hàng số, các biện pháp kích thích của chính phủ tương đối thành công và sự gia tăng của các nền tảng ngân hàng di động và trực tuyến đã góp phần mang lại hiệu quả tích cực cho ngành này.

Bảng xếp hạng cho thấy, ngân hàng Việt phát triển toàn diện hơn, hoạt động an toàn, lành mạnh hơn, giảm thiểu rủi ro, không còn phụ thuộc vào tăng trưởng tín dụng, thể hiện khả năng chống chịu rủi ro tốt trước cú sốc bên ngoài và cải thiện nguồn thu theo hướng bền vững hơn so với các ngân hàng trong khu vực.

Bảng xếp hạng trên của Brand Finance dựa trên kết quả kinh doanh năm 2021. Với kết quả kinh doanh năm 2022 có tăng trưởng lợi nhuận rất cao (BIDV tăng 70%, SHB tăng 54%, VP Bank tăng 48%, ACB tăng 43%, Vietcombank tăng 39%, MB tăng 38%...) thì có thể trong bảng xếp hạng năm sau, các ngân hàng Việt Nam sẽ tiếp tục tăng hạng mạnh.

Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng mở cửa, việc các định chế tài chính mở rộng hoạt động ra nước ngoài sẽ hỗ trợ rất nhiều không chỉ cho kiều bào mà còn cho các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh ở đây. Trong thời gian tới sẽ chứng kiến thêm nhiều ngân hàng Việt tiếp tục mở rộng thị phần ra nước ngoài và vươn tầm ra quốc tế./.

Tài Tâm

Đọc thêm

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

(TBTCO) - Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối quý II/2026, tiền gửi thanh toán của khách hàng cá nhân giảm gần 10% so với cùng kỳ, xuống khoảng 1,22 triệu tỷ đồng, dù số tài khoản tiếp tục tăng lên mức kỷ lục. Trong bối cảnh lãi suất tiền gửi kỳ hạn neo ở mức cao, các ngân hàng đẩy mạnh sản phẩm lợi suất cao nhằm giữ dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA).
Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

(TBTCO) - Đến năm 2036, cứ 5 người Việt Nam sẽ có 1 người trên 60 tuổi (theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc). Con số này đang đặt ra một câu hỏi: liệu người Việt đã thực sự sẵn sàng về tài chính cho tuổi già hay chưa? Câu trả lời, theo báo cáo năm 2025 do Viện nghiên cứu Hiệp hội Định phí Bảo hiểm Hoa Kỳ (SOA Research Institute) công bố, là một nghịch lý đáng suy ngẫm.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
Ngân hàng NCB và Petrolimex hợp tác chiến lược, kết nối hiệu quả hệ sinh thái năng lượng và tài chính

Ngân hàng NCB và Petrolimex hợp tác chiến lược, kết nối hiệu quả hệ sinh thái năng lượng và tài chính

(TBTCO) - Ngày 22/9/2026, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện, mở ra cơ hội kết nối sâu rộng giữa 2 bên trong việc triển khai các giải pháp tài chính – ngân hàng vượt trội phục vụ nhu cầu phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/9): USD biến động nhẹ, DXY neo trên 100 điểm trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (23/9): USD biến động nhẹ, DXY neo trên 100 điểm trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 23/9, Ngân hàng Nhà nước hạ tỷ giá trung tâm 5 đồng, xuống 25.635 đồng/USD, các ngân hàng giữ tỷ giá ổn định. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng lên 100,54 điểm, thị trường thận trọng chờ tiến triển giữa Mỹ - Iran quanh eo biển Hormuz, cùng diễn biến từ Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Trung.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Hà Nội - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Đà Nẵng - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Miền Tây - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Tây Nguyên - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
Miếng SJC Nghệ An 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
Miếng SJC Thái Bình 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 ▼110K 14,400 ▼110K
Trang sức 99.99 13,810 ▼110K 14,410 ▼110K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 ▼11K 14,442 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 ▼11K 14,443 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 ▲1267K 1,439 ▲1294K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 ▲1267K 144 ▼1307K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 ▼11K 1,429 ▲1285K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 ▼1089K 141,485 ▼1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 ▼825K 107,336 ▼825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 ▲78704K 97,332 ▲87524K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 ▼671K 87,328 ▼671K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 ▲66238K 83,469 ▲75058K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 ▼459K 59,745 ▼459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Cập nhật: 24/09/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17737 18010 18586
CAD 17884 18158 18774
CHF 30769 31146 31793
CNY 0 3829 3925
EUR 28931 29150 30231
GBP 33583 33971 34909
HKD 0 3183 3386
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14428 15015
SGD 19774 20056 20626
THB 692 755 808
USD (1,2) 25729 0 0
USD (5,10,20) 25768 0 0
USD (50,100) 25796 25810 26180
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,026 29,049 30,427
JPY 159.64 159.93 169.61
GBP 33,816 33,908 35,082
AUD 17,958 18,023 18,706
CAD 18,087 18,145 18,815
CHF 31,197 31,294 32,216
SGD 19,900 19,962 20,744
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.51 18.26 19.88
THB 741.95 751.11 804.23
NZD 14,445 14,579 15,012
SEK - 2,580 2,671
DKK - 3,893 4,031
NOK - 2,696 2,792
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,957.79 - 6,724.66
TWD 737.34 - 892.76
SAR - 6,805.45 7,168.62
KWD - 82,209 87,477
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,042 29,159 30,368
GBP 33,798 33,934 34,953
HKD 3,249 3,262 3,379
CHF 30,994 31,118 32,057
JPY 160.62 161.27 169.23
AUD 17,952 18,024 18,616
SGD 19,963 20,043 20,633
THB 758 761 799
CAD 18,106 18,179 18,769
NZD 14,522 15,063
KRW 18.15 20.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25815 25815 26175
AUD 17927 18027 18950
CAD 18076 18176 19190
CHF 31010 31040 32621
CNY 3811.8 3836.8 3972.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29112 29142 30867
GBP 33873 33923 35694
HKD 0 3315 0
JPY 160.21 160.71 171.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14537 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19929 20059 20780
THB 0 721.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,705 25,825 26,500
USD20 25,675 25,825 26,500
USD1 25,655 25,825 26,500
AUD 17,969 18,069 19,175
EUR 28,922 29,022 30,682
CAD 18,026 18,126 19,434
SGD 20,002 20,152 20,710
JPY 161.41 162.91 168.48
GBP 33,802 33,952 35,295
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 758 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/09/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30