SeABank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế kế hoạch đạt 6.458 tỷ đồng

(TBTCO) - SeABank ghi nhận kết quả kinh doanh ấn tượng năm 2024 và quý I/2025, đồng thời đặt mục tiêu tăng trưởng ổn định, mở rộng hoạt động, nâng cao năng lực tài chính và quản trị, hướng tới phát triển bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng.
aa
SeABank "mưa" quà tặng trị giá hơn 5 tỷ đồng tri ân khách hàng dịp sinh nhật Lợi nhuận quý I của SeABank tăng gần 189% so với cùng kỳ

Ngày 25/4/2025, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025, thông qua nhiều mục tiêu, kế hoạch quan trọng như: kế hoạch kinh doanh năm 2025 với lợi nhuận trước thuế tăng trưởng 7%, đạt 6.458 tỷ đồng, mua cổ phần của Công ty Cổ phần Chứng khoán ASEAN (ASEAN SC) và bầu bổ sung Thành viên độc lập Hội đồng quản trị.

SeABank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế kế hoạch đạt 6.458 tỷ đồng
Tại Đại hội, Ban Lãnh đạo SeABank đã thông tin tới cổ đông về kết quả hoạt động kinh doanh năm 2024 và kế hoạch năm 2025.

Lợi nhuận trước thuế quý I tăng gần 189% so với cùng kỳ

Tại Đại hội, Ban Lãnh đạo SeABank đã thông tin tới cổ đông về kết quả hoạt động kinh doanh năm 2024 và kế hoạch năm 2025. Cụ thể, lợi nhuận trước thuế năm 2024 của Ngân hàng đạt hơn 6.039 tỷ đồng, hoàn thành 103% kế hoạch; tổng tài sản đạt 325.699 tỷ đồng, tăng 22% so với năm 2023. Các chỉ số về hiệu suất hoạt động ROA và ROE lần lượt đạt 1,63% và 14,75%; tỷ lệ nợ xấu kiểm soát ở mức 1,89%.

Tiên phong phát triển tài chính bền vững, SeABank phát hành trái phiếu xanh lam đầu tiên của Việt Nam và là Ngân hàng Thương mại tư nhân đầu tiên phát hành trái phiếu xanh lá cho các tổ chức tài chính quốc tế là IFC và AIIB với tổng giá trị lên tới 150 triệu USD. Nguồn vốn này giúp SeABank mở rộng tài trợ cho các hoạt động kinh tế bền vững gắn với đại dương và nước, các lĩnh vực xanh như tòa nhà xanh, năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng.

Kết thúc năm 2024, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) riêng lẻ và hợp nhất của SeABank năm 2024 lần lượt đạt 12,33% và 12,84%, nằm trong nhóm các ngân hàng có CAR cao nhất hệ thống. Ngân hàng cũng phát hành thành công 10 triệu cổ phiếu theo chương trình lựa chọn dành cho người lao động (ESOP), dự kiến hoàn thành các thủ tục để tăng vốn điều lệ lên 28.450 tỷ đồng trong quý II/2025.

Nền tảng tài chính vững chắc giúp SeABank hoàn thiện các phương pháp luận, tuân thủ tốt giới hạn an toàn về quản lý rủi ro theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và chuẩn Basel III.

Bên cạnh những kết quả kinh doanh khả quan năm 2024, Ban lãnh đạo SeABank cũng chia sẻ kết quả kinh doanh quý I/2025 của Ngân hàng ghi nhận những kết quả ấn tượng: lợi nhuận trước thuế đạt 4.350 tỷ đồng, tăng gần 189% so với cùng kỳ.

Tổng huy động đạt 189.993 tỷ đồng; Tổng dư nợ đạt 213.048 tỷ đồng; Tổng tài sản đạt 333.746 tỷ đồng. Tổng doanh thu thuần (TOI) đạt 5.820 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu giảm so với năm 2024, ở mức 1,84% do Ngân hàng kiểm soát tốt rủi ro tín dụng.

Mở rộng hoạt động và nâng cao hiệu quả quản trị

Trên cơ sở các thành tích đạt được trong năm 2024 và đánh giá tình hình kinh tế vĩ mô năm 2025, Đại hội đồng cổ đông SeABank đã thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2025 với định hướng phát triển kinh doanh theo phân khúc, kiểm soát rủi ro và duy trì tăng trưởng ổn định so với năm 2024.

Theo đó, Ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế kế hoạch đạt 6.458 tỷ đồng, Tổng tài sản tăng trưởng 10%; tăng trưởng Huy động đạt 16%; Cấp tín dụng tăng 15%; ROE đạt 13,8% và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3% theo quy định.

Tại kỳ xếp hạng tín nhiệm gần nhất năm 2024, SeABank được Moody’s giữ nguyên xếp hạng Ba3 cho danh mục Tiền gửi dài hạn, mức B1 cho đánh giá tín dụng cơ sở (BCA) và triển vọng phát triển Ổn định.
Tại kỳ xếp hạng tín nhiệm gần nhất năm 2024, SeABank được Moody’s giữ nguyên xếp hạng Ba3 cho danh mục Tiền gửi dài hạn, mức B1 cho đánh giá tín dụng cơ sở (BCA) và triển vọng phát triển Ổn định.

Nhằm thực hiện các mục tiêu tăng trưởng, đồng thời tăng cường năng lực tài chính để đầu tư đẩy mạnh kinh doanh và đảm bảo an toàn hoạt động, Đại hội đồng cổ đông SeABank đã thông qua kế hoạch phát hành 20 triệu cổ phiếu ESOP để nâng vốn điều lệ lên 28.650 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, Đại hội đồng cổ đông SeABank cũng thông qua chủ trương chào bán/phát hành cổ phiếu riêng lẻ và/hoặc cổ phiếu riêng lẻ để hoán đổi nợ với tỷ lệ tối đa 20% tổng số lượng cổ phiếu đang lưu hành tại thời điểm chào bán/phát hành.

Cùng với kế hoạch tăng vốn, SeABank hướng tới mở rộng hoạt động kinh doanh với đề án mua Công ty Cổ phần Chứng khoán ASEAN (ASEAN SC) trở thành công ty con của Ngân hàng. Điều này tạo cơ hội cho ngân hàng đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và hệ thống phân phối, đẩy mạnh bán chéo, phát triển hoạt động đầu tư.

Tại Đại hội đồng cổ đông, SeABank đã bầu bổ sung ông Matthew Sander Hosford (quốc tịch Mỹ) làm Thành viên độc lập Hội đồng Quản trị nhiệm kỳ 2023-2028. Ông Hosford có bằng Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh Harvard, hơn 35 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng quốc tế, từng giữ chức Tổng Giám đốc Ngân hàng Santander (Hồng Kông) và chuyên gia cao cấp tại Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC).

Việc bổ sung ông nâng tổng số thành viên Hội đồng Quản trị lên 8 người, trong đó có 2 thành viên độc lập và 3 thành viên người nước ngoài, góp phần tăng cường năng lực quản trị, thúc đẩy hội nhập quốc tế và thực thi chiến lược phát triển bền vững theo tiêu chí Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG).

Hồng Vân

Đọc thêm

Sau biến cố bất ngờ đêm giao thừa, khoản chi trả bảo hiểm trở thành điểm tựa cho một gia đình tại Long An

Sau biến cố bất ngờ đêm giao thừa, khoản chi trả bảo hiểm trở thành điểm tựa cho một gia đình tại Long An

(TBTCO) - Đêm giao thừa tưởng chừng chỉ là những khoảnh khắc sum vầy, nhưng một gia đình tại Long An đã bất ngờ đối diện với biến cố lớn khi người chồng đột ngột qua đời. Trong hoàn cảnh chông chênh ấy, khoản chi trả từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đã trở thành điểm tựa giúp người ở lại vượt qua khủng hoảng và từng bước tái thiết cuộc sống sau mất mát.
Giá vàng hôm nay ngày 23/5: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 23/5: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm xuống quanh mức 4.508,5 USD/ounce. Bên cạnh đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng đồng loạt lùi về vùng 159 - 162 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng tương lai cạnh tranh bằng trải nghiệm khách hàng, dữ liệu và AI

Ngân hàng tương lai cạnh tranh bằng trải nghiệm khách hàng, dữ liệu và AI

(TBTCO) - Trong bối cảnh AI, dữ liệu và hành vi khách hàng đang làm thay đổi mạnh mẽ ngành tài chính - ngân hàng, các tổ chức tài chính không còn cạnh tranh đơn thuần bằng tính năng mới, sản phẩm dịch vụ hay quy mô mạng lưới, mà bằng khả năng thấu hiểu khách hàng, siêu cá nhân hóa và chuyển hóa công nghệ thành trải nghiệm tối ưu của khách hàng trong từng điểm chạm. Đây cũng là những nội dung trọng tâm được các chuyên gia quốc tế chia sẻ tại Hội thảo “Chuyển đổi số: Xu hướng và Tầm nhìn chiến lược” do VietinBank tổ chức trong khuôn khổ sự kiện “Digital Symphony” ngày 15/5/2026.
Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng hành trình “Yên tâm vui khỏe” với giải pháp bảo vệ nền tảng cho các gia đình Việt

Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng hành trình “Yên tâm vui khỏe” với giải pháp bảo vệ nền tảng cho các gia đình Việt

(TBTCO) - Trong bối cảnh chi phí y tế và áp lực tài chính liên quan đến sức khỏe ngày càng gia tăng, Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng hành trình “Yên tâm vui khỏe” thông qua việc giới thiệu giải pháp bảo vệ nền tảng mới – Sản phẩm bảo hiểm tử kỳ PRUYên Tâm Vui Khỏe. Đây là bước tiếp theo trong định hướng tăng cường các giải pháp bảo vệ sức khỏe và tài chính toàn diện đến các gia đình Việt.
Hoàn thiện “trụ cột” an sinh, khơi nguồn vốn dài hạn từ bảo hiểm hưu trí bổ sung

Hoàn thiện “trụ cột” an sinh, khơi nguồn vốn dài hạn từ bảo hiểm hưu trí bổ sung

Nghị định 85/2026/NĐ-CP tạo khuôn khổ pháp lý triển khai hiệu quả, bền vững chính sách cho bảo hiểm hưu trí bổ sung. Bộ Tài chính kỳ vọng Nghị định góp phần đa dạng hóa chương trình an sinh xã hội, giảm gánh nặng ngân sách trong bối cảnh chuẩn bị giai đoạn già hóa dân số. Đồng thời, thúc đẩy hình thành nguồn vốn dài hạn, phát triển cơ sở nhà đầu tư dài hạn trên thị trường vốn, thị trường trái phiếu.
Sống trên những cú chạm số

Sống trên những cú chạm số

(TBTCO) - Quét QR mua đồ ở nước ngoài mà không cần đổi ngoại tệ, ký hồ sơ vay trực tuyến không cần ra quầy, hay mở sổ tiết kiệm online lúc nửa đêm để "đu trend" gameshow… ngân hàng số đang dần trở thành một phần quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người Việt.
Bên trong “hệ thần kinh số” xử lý hơn 1 tỷ giao dịch của Vietcombank

Bên trong “hệ thần kinh số” xử lý hơn 1 tỷ giao dịch của Vietcombank

(TBTCO) - Người dùng có thể hoàn tất một giao dịch ngân hàng chỉ trong vài giây. Nhưng để những thao tác ấy diễn ra đủ nhanh, đủ an toàn và ổn định mỗi ngày là cả một hành trình chuyển đổi số phức tạp của các ngân hàng lớn.
Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

(TBTCO) - Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Kim TT/AVPL 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 14,800 ▼50K 15,000 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 14,750 ▼50K 14,950 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,600 ▼50K 16,000 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,550 ▼50K 15,950 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,480 ▼50K 15,930 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
NL 99.90 14,350
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,400
Trang sức 99.9 15,340 ▼50K 16,040 ▼50K
Trang sức 99.99 15,350 ▼50K 16,050 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,585 ▲1426K 16,152 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,585 ▲1426K 16,153 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 158 ▼1427K 161 ▼1454K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 158 ▼1427K 1,611 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 156 ▼1409K 1,595 ▲1435K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,421 ▼495K 157,921 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 110,887 ▼375K 119,787 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 99,721 ▼340K 108,621 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 88,555 ▲79669K 97,455 ▲87679K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,248 ▼291K 93,148 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,768 ▼209K 66,668 ▼209K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Cập nhật: 23/05/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18241 18517 19107
CAD 18538 18815 19432
CHF 32913 33298 33962
CNY 0 3838 3931
EUR 29946 30219 31252
GBP 34586 34978 35927
HKD 0 3233 3436
JPY 158 162 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15107 15692
SGD 20045 20328 20861
THB 721 785 839
USD (1,2) 26090 0 0
USD (5,10,20) 26132 0 0
USD (50,100) 26160 26175 26390
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,010 26,010 26,390
USD(1-2-5) 24,970 - -
USD(10-20) 24,970 - -
EUR 30,069 30,093 31,527
JPY 161.08 161.37 171.1
GBP 34,768 34,862 36,071
AUD 18,437 18,504 19,213
CAD 18,722 18,782 19,469
CHF 33,163 33,266 34,257
SGD 20,166 20,229 21,030
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,297 3,307 3,446
KRW 15.98 16.67 18.13
THB 769.03 778.53 833.95
NZD 15,086 15,226 15,672
SEK - 2,765 2,868
DKK - 4,024 4,166
NOK - 2,791 2,897
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,208.13 - 7,009.53
TWD 756.49 - 916.35
SAR - 6,906.18 7,273.26
KWD - 83,619 88,960
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,140 26,160 26,390
EUR 30,040 30,161 31,339
GBP 34,752 34,892 35,898
HKD 3,294 3,307 3,423
CHF 32,907 33,039 33,969
JPY 161.74 162.39 169.71
AUD 18,464 18,538 19,127
SGD 20,259 20,340 20,921
THB 788 791 825
CAD 18,770 18,845 19,414
NZD 15,228 15,761
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26208 26208 26390
AUD 18427 18527 19450
CAD 18748 18848 19863
CHF 33095 33125 34699
CNY 3818 3843 3978.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30107 30137 31863
GBP 34870 34920 36678
HKD 0 3355 0
JPY 162.09 162.59 173.13
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15225 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20203 20333 21059
THB 0 750.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15940000 15940000 16240000
SBJ 14000000 14000000 16240000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,390
USD20 26,184 26,234 26,390
USD1 26,184 26,234 26,390
AUD 18,498 18,598 19,706
EUR 30,292 30,292 31,700
CAD 18,708 18,808 20,115
SGD 20,292 20,442 21,420
JPY 162.61 164.11 168.64
GBP 34,783 35,133 36,005
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,728 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/05/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80