Tài chính xanh góp phần quan trọng để đổi mới mô hình tăng trưởng xanh

Diệu Khiết
(TBTCO) - Tài chính xanh đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế xanh bằng cách hướng nguồn vốn vào năng lượng tái tạo, giao thông sạch và công trình xanh. Tại Việt Nam, các chính sách tài chính xanh đang được hoàn thiện, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng bền vững, giảm thiểu khí thải các-bon.
aa

Nỗ lực hoàn thiện các chính sách

Theo Viện Chiến lược và chính sách tài chính - Bộ Tài chính, để thúc đẩy mô hình tăng trưởng xanh, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 về “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050”.

Cùng với đó, Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021- 2030 và Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 21/3/2022 phê duyệt Chiến lược Tài chính đến năm 2030 đã tiếp tục nhấn mạnh hoàn thiện chính sách ngân sách, xây dựng khung pháp lý cho trái phiếu xanh và phát triển thị trường các-bon. Trong đó, tài chính xanh sẽ đóng vai trò quan trọng, bao gồm các nguồn lực từ ngân hàng, tín dụng vi mô, bảo hiểm và đầu tư, để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng bền vững.

Tài chính xanh góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng xanh

Sự phát triển của Sáng kiến TTCK bền vững – SSE (2012-2023).

Nhằm hướng đến thị trường tài chính xanh, Viện Chiến lược và chính sách tài chính cho biết, các chính sách về thu ngân sách nhà nước (NSNN) đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tăng trưởng xanh.

Bên cạnh đó, chính sách thuế bảo vệ môi trường (BVMT) khuyến khích tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường bằng cách đánh thuế các sản phẩm gây ô nhiễm. Chính sách thuế tài nguyên thúc đẩy quản lý tài nguyên hiệu quả, trong khi thuế thu nhập doanh nghiệp cung cấp ưu đãi cho doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực môi trường và công nghệ xanh.

Để hỗ trợ đầu tư, Chính phủ cũng đã ban hành các chính sách hỗ trợ kinh tế như miễn giảm thuế, phí và tiền thuê đất, cùng với các biện pháp giảm thuế giá trị gia tăng và thuế BVMT.

Chính sách phát triển bảo hiểm xanh và thị trường tín chỉ các-bon cũng được chú trọng. Các doanh nghiệp bảo hiểm đã bắt đầu cung cấp sản phẩm bảo hiểm xanh, tuy nhiên, hiện tại mới chỉ dừng lại ở bảo hiểm trách nhiệm môi trường. Thị trường tín chỉ các-bon sẽ được phát triển qua hai giai đoạn, với mục tiêu xây dựng và vận hành sàn giao dịch tín chỉ các-bon nhằm giảm phát thải khí nhà kính.

Chính sách chi NSNN cho BVMT và phát triển bền vững được ưu tiên với các khoản chi cho các hoạt động bảo vệ môi trường, nghiên cứu công nghệ và ứng dụng tiết kiệm năng lượng. Các chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và tiêu dùng bền vững đã được triển khai, kết hợp với các quy định về mua sắm công xanh và đầu tư công cho cơ sở hạ tầng môi trường.

Thị trường chứng khoán (TTCK) xanh tại Việt Nam cũng đã có những bước phát triển đáng kể. Từ năm 2015, TTCK xanh đã được hình thành với các cổ phiếu và trái phiếu xanh. Các quy định pháp lý liên quan đến phát hành trái phiếu xanh và báo cáo bền vững đã được xây dựng. Chỉ số phát triển bền vững (VNSI) và cam kết ESG (môi trường - xã hội - quản trị) của doanh nghiệp niêm yết đều cao.

Tài chính xanh góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng xanh
Ảnh minh hoạ.

Giải pháp tài chính xanh toàn diện

Tại diễn đàn "Hiện thực hóa Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh tại Việt Nam: Thúc đẩy dòng vốn xanh" diễn ra ngày 10/9/2024, TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV cho biết, tài chính xanh bao gồm các chính sách và công cụ tài chính nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững, chuyển đổi năng lượng, và ứng phó với biến đổi khí hậu. Ở Việt Nam, hệ thống quy định pháp lý về tín dụng xanh, trái phiếu xanh, cổ phiếu xanh đã được ban hành khá đầy đủ theo hướng tiếp cận thông lệ quốc tế.

Tuy vậy, để đổi mới mô hình tăng trưởng xanh, Viện Chiến lược và chính sách tài chính, Bộ Tài chính cho biết, Việt Nam cần triển khai các giải pháp tài chính xanh toàn diện. Đầu tiên là cần mở rộng đối tượng chịu thuế BVMT để bao quát tất cả các nguồn ô nhiễm, xác định mức thuế phù hợp và rà soát chính sách ưu đãi cho các dự án xanh.

Đồng thời, tăng cường chi ngân sách cho BVMT thông qua việc nâng cao thu từ các sắc thuế và phí liên quan, cũng như cần rà soát đầu tư công để huy động nguồn vốn từ các nguồn khác như ODA và đầu tư tư nhân.

Cùng với đó, theo iện Chiến lược và chính sách tài chính, thời gian tới cần hoàn thiện quy định về mua sắm công xanh bằng cách cụ thể hóa các tiêu chí và cơ chế báo cáo.

Riêng đó với phát triển TTCK xanh cần cải thiện hơn nữa cơ sở pháp lý và khuyến khích phát hành trái phiếu xanh, cổ phiếu xanh. Song song với đó, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc công bố thông tin bền vững và khuyến khích nhà đầu tư tổ chức tham gia vào thị trường tài chính xanh.

Ngoài ra, để phát triển bảo hiểm xanh, cần hoàn thiện hệ thống pháp lý, đánh giá hiện trạng sản phẩm bảo hiểm xanh, và khuyến khích đa dạng hóa sản phẩm. Mặt khác, cần xây dựng hành lang pháp lý cho thị trường tín chỉ carbon, thúc đẩy giao dịch và kết nối với thị trường quốc tế./.

Mặc dù Việt Nam đã đạt một số kết quả tích cực trong việc triển khai chính sách tài chính – ngân sách cho tăng trưởng xanh nhưng trên thực tế vẫn một số hạn chế.

Cụ thể, chính sách thuế BVMT chưa đủ mạnh, mức thuế và phí còn thấp, không tương xứng với tổn hại gây ra và chưa bao quát hết các sản phẩm gây ô nhiễm. Dù có sự ưu tiên nguồn lực cho tăng trưởng xanh, ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 25% nhu cầu, dẫn đến tình trạng nợ chính sách và thiếu vốn cho các dự án lớn.

Quy định về mua sắm công xanh trong Luật Đấu thầu năm 2023 còn thiếu hướng dẫn cụ thể và cơ chế đánh giá chưa hoàn thiện.

Thị trường vốn xanh phát triển còn chưa có các tiêu chuẩn chung về tiêu chí xanh, với sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức còn hạn chế. Đồng thời, việc phát triển bảo hiểm xanh cũng mới chủ yếu chỉ cung cấp các sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm môi trường mà chưa đa dạng hóa.

Diệu Khiết

Đọc thêm

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

(TBTCO) - Để bảo đảm nguồn lực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, Thủ tướng yêu cầu rà soát, tổng hợp, đề xuất bố trí ngân sách tập trung cho các nhiệm vụ trọng điểm ngay trong quý I/2026.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Kim TT/AVPL 17,210 ▲480K 17,510 ▲480K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Nguyên Liệu 99.99 16,450 ▲650K 16,650 ▲650K
Nguyên Liệu 99.9 16,400 ▲650K 16,600 ▲650K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 17,050 ▲650K 17,450 ▲650K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 17,000 ▲650K 17,400 ▲650K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,930 ▲650K 17,380 ▲650K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Hà Nội - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Đà Nẵng - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Miền Tây - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Tây Nguyên - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Miếng SJC Nghệ An 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Miếng SJC Thái Bình 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
NL 99.90 16,070 ▲600K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,100 ▲600K
Trang sức 99.9 16,690 ▲480K 17,390 ▲480K
Trang sức 99.99 16,700 ▲480K 17,400 ▲480K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 172 ▼1500K 17,502 ▲480K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 172 ▼1500K 17,503 ▲480K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,718 ▲1551K 1,748 ▲1578K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,718 ▲1551K 1,749 ▲48K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,698 ▲1533K 1,733 ▲48K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 165,084 ▲4752K 171,584 ▲4752K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,238 ▲3600K 130,138 ▲3600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,106 ▲3265K 118,006 ▲3265K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,974 ▲2929K 105,874 ▲2929K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,294 ▲2799K 101,194 ▲2799K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,523 ▲2001K 72,423 ▲2001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Cập nhật: 25/03/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17851 18125 18703
CAD 18600 18877 19490
CHF 32730 33115 33772
CNY 0 3470 3830
EUR 29939 30212 31245
GBP 34502 34894 35836
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15035 15628
SGD 20071 20354 20870
THB 721 784 839
USD (1,2) 26081 0 0
USD (5,10,20) 26122 0 0
USD (50,100) 26150 26170 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,073 30,097 31,345
JPY 161.38 161.67 170.41
GBP 34,719 34,813 35,798
AUD 18,078 18,143 18,717
CAD 18,779 18,839 19,418
CHF 33,023 33,126 33,886
SGD 20,187 20,250 20,924
CNY - 3,760 3,860
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.26 16.96 18.34
THB 773.63 783.18 833.38
NZD 15,041 15,181 15,540
SEK - 2,780 2,862
DKK - 4,025 4,141
NOK - 2,668 2,747
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,232.31 - 6,992.8
TWD 745.53 - 897.62
SAR - 6,894.03 7,217.19
KWD - 83,555 88,358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26359
AUD 18091 18191 19119
CAD 18809 18909 19927
CHF 33067 33097 34689
CNY 3764.6 3789.6 3925.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30184 30214 31937
GBP 34903 34953 36705
HKD 0 3355 0
JPY 162.64 163.14 173.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20256 20386 21121
THB 0 756.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17600000
SBJ 15000000 15000000 17600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,359
USD20 26,155 26,205 26,359
USD1 23,849 26,205 26,359
AUD 18,099 18,199 19,330
EUR 30,290 30,290 31,732
CAD 18,732 18,832 20,158
SGD 20,305 20,455 21,453
JPY 162.88 164.38 169.1
GBP 34,739 35,089 36,003
XAU 16,718,000 0 17,022,000
CNY 0 3,669 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80