Thanh khoản dồi dào giúp Ngân hàng Nhà nước dừng hút tiền và giảm bơm tiền

Thái Duy
(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh sau khi Ngân hàng Nhà nước quyết định hạ lãi suất điều hành. Trong nửa cuối tháng 3, Ngân hàng Nhà nước dừng hút tiền và chỉ bơm thêm gần 640 tỷ đồng qua kênh thị trường mở.
aa

Báo cáo cập nhật thị trường tiền tệ nửa cuối tháng 3/2023 của Công ty Chứng khoán MB (MBS) cho biết, tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế tính đến thời điểm 28/3 đạt 2,06% so với cuối năm 2022, không cao so với thời điểm tăng của cùng kỳ năm ngoái. Điều này xuất phát từ tình hình khó khăn tại nhiều lĩnh vực khiến nhu cầu vốn của doanh nghiệp chững lại. Cầu tín dụng nền kinh tế suy giảm, dẫn đến hệ thống ngân hàng khó đẩy tín dụng cao mặc dù thanh khoản dư thừa lớn.

Lãi suất tiền gửi tại các ngân hàng thương mại đã giảm 0,5% - 1,5% ở tất cả các kỳ hạn khi Ngân hàng Nhà nước đưa ra quyết định giảm trần lãi suất tiền gửi.

Để hỗ trợ nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước đã hai lần liên tiếp hạ lãi suất điều hành trong tháng 3. Tuần trước, theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước, một loạt lãi suất điều hành sẽ giảm 0,3 - 0,5% bắt đầu từ 3/4. Trong đó, lãi suất tái cấp vốn giảm 0,5%; lãi suất cho vay ngắn hạn của các tổ chức tín dụng cho một số lĩnh vực giảm 0,5%.

Thanh khoản dồi dào giúp Ngân hàng Nhà nước dừng hút tiền và giảm bơm tiền

Khảo sát của Bloomberg cho thấy, lãi suất liên ngân hàng qua đêm đang giao dịch ở mức 1%/năm, giảm mạnh từ mức 5,2% của cuối tháng trước, mặt bằng lãi suất đã quay trở lại mức của tháng 7/2022. Lãi suất của các kỳ hạn khác cũng ở quanh mức 1,82% - 4,06%, giảm mạnh so với mức cuối tháng 2. Lãi suất tiền gửi tại các ngân hàng thương mại đã giảm 0,5% - 1,5% ở tất cả các kỳ hạn khi Ngân hàng Nhà nước đưa ra quyết định giảm trần lãi suất tiền gửi.

Hiện tại lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng đang được các ngân hàng áp dụng là 0,5%/năm và lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng cũng được các ngân hàng giảm về mức 5,5%/năm.

Báo cáo của MBS cũng cho biết, tình trạng thanh khoản dồi dào tạo điều kiện cho Ngân hàng Nhà nước dừng hút tiền qua tín phiếu và cũng giảm khối lượng tiền bơm vào hệ thống. Trong nửa cuối tháng 3, Ngân hàng Nhà nước chỉ bơm thêm gần 640 tỷ đồng qua kênh thị trường mở với lãi suất 5,5%/năm, kỳ hạn 28 ngày./.

Thái Duy

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

(TBTCO) - Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.
Doanh thu phí bảo hiểm tăng hai chữ số, PJICO vẫn khó giữ đà tăng lợi nhuận

Doanh thu phí bảo hiểm tăng hai chữ số, PJICO vẫn khó giữ đà tăng lợi nhuận

Dù duy trì chia cổ tức tiền mặt nhiều năm, PJICO vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng cao hơn từ nhiều cổ đông trong bối cảnh hiệu quả kinh doanh bảo hiểm chịu sức ép. Quý I/2026, doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng mạnh 13,2% lên mức cao, song áp lực chi phí khiến lợi nhuận gộp mảng bảo hiểm đi ngang, tăng trưởng lợi nhuận chủ yếu dựa vào hoạt động tài chính.
Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng. Việc điều chỉnh này không chỉ tác động đến tiền lương, phụ cấp của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, mà còn là căn cứ để tính một số khoản đóng, mức hưởng trong chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

(TBTCO) - Trong khi nhiều quốc gia phát triển mạnh các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, đặc biệt là cho thuê tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, Việt Nam lại thiếu vắng các định chế tài chính trung gian đủ mạnh. Điều này khiến ngân hàng thương mại tiếp tục “gánh” phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành hơn 498 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thêm gần 4.982 tỷ đồng từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 77.782 tỷ đồng, tức tăng 6,8433%. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh BIDV cần củng cố hệ số CAR, đáp ứng lộ trình triển khai Basel III và tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

(TBTCO) - Khảo sát mới đây do Sun Life thực hiện cho thấy phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực chồng chéo về tài chính, sự nghiệp và sức khỏe cá nhân, xuất phát từ vai trò chăm sóc gia đình đa thế hệ, trong khi sự chuẩn bị cho các rủi ro tài chính dài hạn vẫn còn hạn chế.
Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

(TBTCO) - Chiến dịch “Chọn Xanh cho Khỏe - Vì một Việt Nam thật Khỏe” của Manulife Việt Nam vừa được vinh danh tại giải thưởng quốc tế uy tín Global CSR & ESG Awards, ở hạng mục “Doanh nghiệp có chương trình cộng đồng xuất sắc”.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
Kim TT/AVPL 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
Nguyên Liệu 99.99 14,850 ▼40K 15,050 ▼40K
Nguyên Liệu 99.9 14,800 ▼40K 15,000 ▼40K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,650 ▼40K 16,050 ▼40K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,600 ▼40K 16,000 ▼40K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,530 ▼40K 15,980 ▼40K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
Hà Nội - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
Đà Nẵng - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
Miền Tây - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
Tây Nguyên - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
Đông Nam Bộ - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
Miếng SJC Nghệ An 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
Miếng SJC Thái Bình 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
NL 99.90 14,350 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,400 ▼250K
Trang sức 99.9 15,390 ▼40K 16,090 ▼40K
Trang sức 99.99 15,400 ▼40K 16,100 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 159 ▼1435K 16,202 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 159 ▼1435K 16,203 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,585 ▼4K 1,615 ▼4K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,585 ▼4K 1,616 ▲1454K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,565 ▼4K 160 ▼1444K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,916 ▼396K 158,416 ▼396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,262 ▼300K 120,162 ▼300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,061 ▼272K 108,961 ▼272K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,886 ▼80218K 9,776 ▼88228K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,539 ▼234K 93,439 ▼234K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,977 ▼166K 66,877 ▼166K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Cập nhật: 22/05/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18287 18562 19138
CAD 18577 18854 19470
CHF 32853 33238 33883
CNY 0 3835 3927
EUR 29974 30247 31277
GBP 34588 34980 35914
HKD 0 3232 3434
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15171 15758
SGD 20065 20348 20871
THB 723 786 839
USD (1,2) 26087 0 0
USD (5,10,20) 26129 0 0
USD (50,100) 26157 26172 26390
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,160 26,160 26,390
USD(1-2-5) 25,114 - -
USD(10-20) 25,114 - -
EUR 30,177 30,201 31,461
JPY 161.6 161.89 170.66
GBP 34,855 34,949 35,943
AUD 18,517 18,584 19,176
CAD 18,813 18,873 19,457
CHF 33,174 33,277 34,061
SGD 20,246 20,309 20,981
CNY - 3,811 3,934
HKD 3,306 3,316 3,435
KRW 16.14 16.83 18.2
THB 772.01 781.54 831.92
NZD 15,177 15,318 15,680
SEK - 2,779 2,861
DKK - 4,038 4,156
NOK - 2,808 2,895
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,233.91 - 7,000.51
TWD 757.21 - 912.02
SAR - 6,923.83 7,250.88
KWD - 83,840 88,689
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,140 26,160 26,390
EUR 30,040 30,161 31,339
GBP 34,752 34,892 35,898
HKD 3,294 3,307 3,423
CHF 32,907 33,039 33,969
JPY 161.74 162.39 169.71
AUD 18,464 18,538 19,127
SGD 20,259 20,340 20,921
THB 788 791 825
CAD 18,770 18,845 19,414
NZD 15,228 15,761
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26145 26145 26390
AUD 18457 18557 19482
CAD 18754 18854 19868
CHF 33074 33104 34678
CNY 3813.8 3838.8 3974.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30135 30165 31891
GBP 34869 34919 36672
HKD 0 3355 0
JPY 162.08 162.58 173.13
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15269 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20216 20346 21074
THB 0 751.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15940000 15940000 16240000
SBJ 14000000 14000000 16240000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,170 26,220 26,390
USD20 26,170 26,220 26,390
USD1 23,878 26,220 26,390
AUD 18,507 18,607 19,724
EUR 30,291 30,291 31,720
CAD 18,705 18,805 20,125
SGD 20,299 20,449 21,420
JPY 162.56 164.06 168.69
GBP 34,764 35,114 36,250
XAU 15,948,000 0 16,242,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/05/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80