Thử lý giải cho đấu thầu vàng

Chính Trung
Tròn 50 phiên đấu thầu với gần 52 tấn vàng miếng đã được tung ra thị trường, song chênh lệch giá vàng trong nước so với giá thế giới vẫn chưa thể thu hẹp như mục tiêu đặt ra. Còn vàng đấu giá tung ra đến đâu, hết đến đấy. Nhu cầu vàng vẫn như "thùng không đáy"!?
aa

Lựa chọn chính sách

Đặt giả định, tối hôm nay giá vàng thế giới rơi 5%. Điều gì xẩy ra với giá vàng trong nước mở cửa sáng hôm sau?

Có hai tình huống xẩy ra vào sáng hôm sau: một là, giá trong nước lập tức bắt đúng nhịp diễn biến giá thế giới, giảm tương ứng; hai là, giá trong nước có độ ì lớn, chênh lệch giá doãng rộng.

Với thị trường vàng Việt Nam, không còn "nhạy cảm" với thị trường thế giới như trước, diễn biến giá nghiêng về tình huống thứ hai. Thực tế độ ì của nó đã quá quen thuộc trong thời gian qua, thậm chí còn có cả khả năng tăng ngược.

Từ đầu năm 2013 đến nay, giá vàng thế giới đã cho thấy khả năng rơi cỡ 5% qua một đêm là không còn hiếm, thậm chí còn có hôm rơi tới 9% như đêm 15/4 vừa qua.

Theo tình huống thứ hai, Ngân hàng Nhà nước lại rơi vào thế không đảm bảo được sát giá như yêu cầu của Quốc hội (đảm bảo giá trong nước sát giá thế giới). Bởi giá thế giới rơi 5% còn giá trong nước vẫn ì ra, như vậy chênh lệch giá lại doãng rộng. Theo đó, cách duy nhất là ồ ạt cung vàng ra thị trường để đè giá.

Trong tình huống giả định trên, thực tế đã diễn ra thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước phải luôn chạy theo thị trường, chạy theo giá vàng thế giới, phải đảm bảo cho được yêu cầu sát giá.

Quá khó, bởi có nhiều vấn đề đặt ra.

Thứ nhất, cơ quan quản lý sẽ phải dùng một nguồn lực lớn với nhiều rủi ro chi phí để ứng xử với biến động. Thứ hai, chính sách đối với thị trường vàng trở nên thụ động. Thứ ba, dịch chuyển toàn bộ cú rơi 5% đó về đồng nghĩa với thị trường trong nước lung lay theo thế giới, dễ tạo một vùng trũng giá hút dòng người rồng rắn xếp hàng mua vàng, tiền lại đổ vào vàng mà liên quan là thanh khoản hệ thống ngân hàng.

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước chọn “ứng xử tĩnh”. Họ không chạy theo những biến động đó và giá vàng trong nước có đời sống độc lập hơn với thế giới.

Chênh lệch giá qua những biến động có những lúc doãng rất rộng, nhưng đổi lại là sự ổn định. Lãi suất, tỷ giá và thanh khoản hệ thống không còn bị chao đảo theo những cú rơi trên thị trường thế giới.

Theo đó, chính sách đã điều hành thị trường theo mục tiêu ổn định chung, thay vì chạy theo thị trường mà lãi suất, tỷ giá và thanh khoản hệ thống, hay những ổn định kinh tế - xã hội có thể bị rung lắc theo nó. Đánh đổi ở đây là yêu cầu sát giá (trong nước với quốc tế) đã không được hoàn thành nhiệm vụ.

Ở đây là sự lựa chọn của chính sách. Thống đốc Nguyễn Văn Bình từng khẳng định, Ngân hàng Nhà nước xác định bình ổn thị trường (giữ ổn định và hạn chế những tác động bên ngoài như tình huống giả định trên) chứ không bình ổn giá (chạy theo biến động).

Song song với đó, Ngân hàng Nhà nước vẫn đang kiên trì tổ chức đấu thầu…

Còn thiếu cung thì còn tổ chức đấu thầu...?

Nói là kiên trì bởi đã 50 phiên, gần 52 tấn ứng với gần 2,5 tỷ USD đã ra đi. Nguồn sử dụng cho đấu thầu là dự trữ ngoại hối quốc gia, nó vẫn đang “chảy máu” qua vàng, trong khi phải gánh nhiều cân đối quan trọng khác.

Giả dụ, sắp tới, tổng lượng đưa ra đấu thầu là 100 tấn, đồng nghĩa với dự trữ ngoại hối hụt đi 5 tỷ USD. Một chuyên gia từng chua chát khi nói về con số này rằng, nếu có 5 tỷ USD như vậy đầu tư cho an ninh quốc phòng, hẳn vị thế của Việt Nam sẽ được nâng cao hơn nữa trong khu vực. Nhưng nó lại chôn thêm vào vàng!

Rộng hơn, ngoại tệ cứ chảy đi theo vàng, dự trữ hụt đi mà nếu phá vỡ giới hạn sẽ tạo những hệ lụy. Phải qua nhiều năm Việt Nam mới đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế về mức dự trữ ngoại hối tối thiểu, đảm bảo từ 12 tuần nhập khẩu của nền kinh tế. Rơi dưới ngưỡng này, hạn mức tín nhiệm quốc gia có thể bị ảnh hưởng, chi phí vay vốn quốc tế sẽ đắt đỏ hơn, hay mức độ tin cậy để thu hút đầu tư nước ngoài cũng có thể giảm sút…

Nhưng, 100 tấn cũng phải bán! Lãnh đạo cao cấp Ngân hàng Nhà nước từng khẳng định rằng: "thị trường còn thiếu cung thì vẫn tổ chức đấu thầu".

Vì sao vẫn phải bán? Vì theo cơ chế hiện hành, Ngân hàng Nhà nước là đầu mối duy nhất, độc quyền tạo cung cho thị trường. Vì sao thiếu cung, hay đã gần 52 tấn bán ra mà vẫn như “thùng không đáy”?

Thiếu cung là dễ hiểu, gần 52 tấn vẫn là quy mô nhỏ. Bởi lẽ, theo ước tính của Ngân hàng Nhà nước, bình quân mỗi năm thị trường vàng Việt Nam cần 100 tấn. Hơn hai năm qua bị nén cung căng thẳng, không có một lượng vàng miếng nào mới được đưa ra, ngoại trừ nhập lậu ngạch nữ trang. Tính toán đơn giản và tương đối, nhu cầu hai năm dồn lại cỡ 200 tấn, nay mới gần 52 tấn thì chưa thể lấp đầy.

Nhìn ngược lại, chỉ dùng gần 52 tấn đó để giữ ổn định thị trường, bóc tách được những xáo trộn, bất ổn của lãi suất, tỷ giá, thanh khoản ngân hàng hay các cân đối vĩ mô khỏi tác động của vàng như từng căng thẳng những năm trước đây, đó lại là một kết quả đáng chú ý.

Hay ở góc nhìn khác, mức độ vàng hóa trong nền kinh tế đáng lẽ hơn hai năm qua nhồi thêm cỡ 200 tấn vàng, thì đến nay chỉ gần 52 tấn.

Song, quan sát những phiên đấu thầu gần đây cho thấy, nhu cầu vàng đã có hơi hướng giảm. Tổng khối lượng đặt thầu trước đây có từ 40 - 50 nghìn lượng/phiên, thì gần đây chỉ quanh 30 nghìn lượng.

Vàng đấu thầu vẫn bị vét hết, bởi nhiều ngân hàng đã trở lại mua vàng cho kinh doanh.

Được biết, trong số gần 52 tấn đó, thực tế chỉ hơn 10 tấn là thực sự cung ra thị trường, phần lớn còn lại là các ngân hàng tất toán và trả cho người dân. Hơn 10 tấn mà trải cho hàng nghìn điểm giao dịch trên toàn quốc của các ngân hàng thương mại được phép kinh doanh vàng, thì rõ ràng khối lượng vàng này cũng bị "dát" ra quá mỏng.

Chính Trung

Chính Trung

Đọc thêm

Ban hành Thông tư về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đặt trọng tâm bảo toàn vốn

Ban hành Thông tư về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đặt trọng tâm bảo toàn vốn

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 33/2026/TT-BTC quy định về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/5/2026 và áp dụng từ năm tài chính 2026. Thông tư nhấn mạnh nguyên tắc việc sử dụng vốn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đảm bảo bảo toàn vốn khi thực hiện hoạt động đầu tư và gia tăng nguồn vốn hoạt động.
Ngân hàng dựng “lá chắn số”, chặn gần 4.000 tỷ đồng giao dịch đáng ngờ

Ngân hàng dựng “lá chắn số”, chặn gần 4.000 tỷ đồng giao dịch đáng ngờ

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển ngân hàng số và đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống. Tính đến ngày 23/3, hệ thống đã cảnh báo 3,5 triệu lượt khách hàng; trong đó hơn 1,1 triệu lượt đã dừng hoặc hủy giao dịch, với tổng giá trị khoảng 3,99 nghìn tỷ đồng, góp phần hạn chế rủi ro gian lận.
Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Sacombank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6%; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời, trình loạt đề xuất mang tính "bước ngoặt" như đổi tên, chuyển trụ sở và gia hạn Đề án tái cơ cấu. Ngân hàng chưa có kế hoạch chia cổ tức, tiếp tục tích lũy vốn, nâng lợi nhuận giữ lại lũy kế lên 30.125,2 tỷ đồng.
Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

(TBTCO) - Khảo sát từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, kỳ vọng tăng trưởng huy động và tín dụng năm 2026 bị điều chỉnh giảm lần lượt 0,45 điểm phần trăm và 2,1 điểm phần trăm so với kỳ trước. Rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng. Đáng chú ý, 11,3% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận sụt giảm.
Chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn

Chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn

(TBTCO) - Chính sách tín dụng với người chấp hành xong án phạt tù được coi là chính sách tín dụng đặc thù và có ý nghĩa nhân văn, góp phần hỗ trợ ổn định cuộc sống và hạn chế tái phạm tội. Ngân hàng Chính sách xã hội đã chủ động triển khai, đến nay dư nợ đạt khoảng 1,2 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn.
Shinhan Bank bứt tốc tín dụng, báo lãi trên 5.400 tỷ đồng

Shinhan Bank bứt tốc tín dụng, báo lãi trên 5.400 tỷ đồng

(TBTCO) - Shinhan Bank Việt Nam ghi nhận tổng tài sản gần 237 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2025, tăng hơn 22%, tín dụng tăng 23,8%, lãi trước thuế đạt 5.411,7 tỷ đồng, NIM duy trì 3,79%. Kết quả kinh doanh phản ánh nền tảng tăng trưởng ổn định, dù chịu áp lực chi phí vốn và cạnh tranh lãi suất.
Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giám đốc Chương trình đào tạo Thị trường Chứng khoán, Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, các chương trình “cộng lãi suất ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động ở giai đoạn gay gắt hơn. Cần điều hành theo hướng phân tầng lãi suất, tín dụng; giữ hệ thống không rơi vào trạng thái “giật cục”.
Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt vừa công bố kết quả kinh doanh năm 2025 (kiểm toán), theo đó, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 59.700 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2024. Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng khả quan 16,1% so với 31/12/2024.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,350 ▼20K 17,650 ▼20K
Kim TT/AVPL 17,360 ▼20K 17,660 ▼20K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,350 ▼20K 17,650 ▼20K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼120K 16,000 ▼120K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼120K 15,950 ▼120K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,750 ▼120K 17,050 ▼120K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,700 ▼120K 17,000 ▼120K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,630 ▼120K 16,980 ▼120K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 172,500 ▼1200K 175,500 ▼1200K
Hà Nội - PNJ 172,500 ▼1200K 175,500 ▼1200K
Đà Nẵng - PNJ 172,500 ▼1200K 175,500 ▼1200K
Miền Tây - PNJ 172,500 ▼1200K 175,500 ▼1200K
Tây Nguyên - PNJ 172,500 ▼1200K 175,500 ▼1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 172,500 ▼1200K 175,500 ▼1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,350 ▼20K 17,650 ▼20K
Miếng SJC Nghệ An 17,350 ▼20K 17,650 ▼20K
Miếng SJC Thái Bình 17,350 ▼20K 17,650 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,350 17,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,350 17,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,350 17,650
NL 99.90 15,820 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼50K
Trang sức 99.9 16,840 17,540
Trang sức 99.99 16,850 17,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,725 ▼12K 176 ▼1591K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,725 ▼12K 17,602 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,725 ▼12K 17,603 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,723 ▼12K 1,758 ▼7K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,723 ▼12K 1,759 ▼7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,703 ▼12K 1,743 ▲1568K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 166,074 ▼693K 172,574 ▼693K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,988 ▼525K 130,888 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,786 ▼476K 118,686 ▼476K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 97,584 ▼427K 106,484 ▼427K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,877 ▼408K 101,777 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,394 ▼57838K 7,284 ▼65848K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,725 ▼12K 176 ▼1591K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,725 ▼12K 176 ▼1591K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,725 ▼12K 176 ▼1591K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,725 ▼12K 176 ▼1591K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,725 ▼12K 176 ▼1591K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,725 ▼12K 176 ▼1591K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,725 ▼12K 176 ▼1591K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,725 ▼12K 176 ▼1591K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,725 ▼12K 176 ▼1591K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,725 ▼12K 176 ▼1591K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,725 ▼12K 176 ▼1591K
Cập nhật: 02/04/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17600 17873 18448
CAD 18414 18691 19310
CHF 32372 32755 33407
CNY 0 3470 3830
EUR 29777 30049 31079
GBP 34083 34474 35413
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14749 15339
SGD 19927 20209 20725
THB 719 782 836
USD (1,2) 26074 0 0
USD (5,10,20) 26115 0 0
USD (50,100) 26143 26163 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 30,012 30,036 31,283
JPY 161.41 161.7 170.39
GBP 34,396 34,489 35,467
AUD 17,876 17,941 18,505
CAD 18,659 18,719 19,293
CHF 32,751 32,853 33,623
SGD 20,115 20,178 20,850
CNY - 3,782 3,902
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.02 16.71 18.07
THB 770.39 779.9 829.86
NZD 14,794 14,931 15,281
SEK - 2,743 2,823
DKK - 4,017 4,132
NOK - 2,664 2,742
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,135.95 - 6,886.03
TWD 746.53 - 898.8
SAR - 6,918.95 7,243.84
KWD - 83,819 88,634
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,943 30,063 31,240
GBP 34,385 34,523 35,524
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,583 32,714 33,636
JPY 161.88 162.53 169.85
AUD 17,861 17,933 18,518
SGD 20,165 20,246 20,824
THB 788 791 825
CAD 18,633 18,708 19,272
NZD 14,880 15,408
KRW 16.69 18.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26362
AUD 17826 17926 18862
CAD 18615 18715 19735
CHF 32717 32747 34359
CNY 3771.9 3796.9 3932.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30027 30057 31783
GBP 34476 34526 36281
HKD 0 3355 0
JPY 162.2 162.7 173.21
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14898 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20133 20263 20985
THB 0 750.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17300000 17300000 17800000
SBJ 16000000 16000000 17800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,165 26,215 26,362
USD20 26,165 26,215 26,362
USD1 23,852 26,215 26,362
AUD 17,884 17,984 19,101
EUR 30,180 30,180 31,609
CAD 18,567 18,667 19,982
SGD 20,209 20,359 20,929
JPY 162.67 164.17 168.85
GBP 34,370 34,720 35,618
XAU 17,368,000 0 17,672,000
CNY 0 3,681 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/04/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80