Thu nhập trong thời gian công tác nước ngoài, tính thuế thế nào?

Theo Chinhphu.vn
Ông Trần Văn Lê (Vĩnh Phúc) được công ty cử đi làm việc tại chi nhánh ở nước ngoài trên 2 năm. Lương và thu nhập công ty vẫn trả tại Việt Nam và có khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo bảng thuế lũy tiến dành cho cá nhân là đối tượng cư trú.
aa

Tại nước ngoài, chi nhánh công ty trả thêm phụ cấp sinh hoạt. Tháng 10/2020, ông được điều động về nước.

Hiện công ty yêu cầu ông nộp thuế bổ sung cho lương năm 2020 với mức thuế suất áp dụng là 20% và không được khấu trừ gia cảnh vì là đối tượng không cư trú tại Việt Nam đủ 183 ngày theo quy định tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC, và do trước đó trả thu nhập đã thu theo thuế lũy tiến là không đúng.

Ông Lê hỏi, công ty đang áp dụng mức thuế đối với ông như vậy là đúng hay sai? Nếu đúng thì chính sách thuế thu nhập cá nhân như vậy có công bằng không, thu nhập của ông khi làm việc ở Việt Nam và khi ở nước ngoài gần như không thay đổi, công ty vẫn trả lương tại Việt Nam và ông không được giảm trừ gia cảnh cho các con. Nếu công ty đang yêu cầu sai thì ông phải làm gì (như các năm trước thì công ty chỉ yêu cầu kê khai thuế tại Việt Nam và phần thu nhập (phụ cấp) được nhận tại nước ngoài để kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam)?

Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc trả lời vấn đề này như sau:

Tại Điều 2 Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Chính phủ quy định:

“Điều 1. Người nộp thuế

Người nộp thuế là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú theo quy định tại Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân, Điều 2 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, có thu nhập chịu thuế theo quy định tại Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân và Điều 3 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP.

Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế của người nộp thuế như sau:

Đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập;

Đối với cá nhân là công dân của quốc gia, vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định với Việt Nam về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và là cá nhân cư trú tại Việt Nam thì nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân được tính từ tháng đến Việt Nam trong trường hợp cá nhân lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam đến tháng kết thúc hợp đồng lao động và rời Việt Nam (được tính đủ theo tháng) không phải thực hiện các thủ tục xác nhận lãnh sự để được thực hiện không thu thuế trùng hai lần theo Hiệp định tránh đánh thuế trùng giữa hai quốc gia.

Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập”.

Tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 1 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định:

“1. Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:

a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, trong đó ngày đến và ngày đi được tính là một (01) ngày. Ngày đến và ngày đi được căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu (hoặc giấy thông hành) của cá nhân khi đến và khi rời Việt Nam. Trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì được tính chung là một ngày cư trú.

Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo hướng dẫn tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam.

b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:

b.1) Có nơi ở thường xuyên theo quy định của pháp luật về cư trú:

b.1.1) Đối với công dân Việt Nam: Nơi ở thường xuyên là nơi cá nhân sinh sống thường xuyên, ổn định không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú.

b.1.2) Đối với người nước ngoài: Nơi ở thường xuyên là nơi ở thường trú ghi trong Thẻ thường trú hoặc nơi ở tạm trú khi đăng ký cấp Thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an cấp.

b.2) Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế, cụ thể như sau:

b.2.1) Cá nhân chưa hoặc không có nơi ở thường xuyên theo hướng dẫn tại Điểm b.1 Khoản 1 Điều này nhưng có tổng số ngày thuê nhà để ở theo các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế cũng được xác định là cá nhân cư trú, kể cả trường hợp thuê nhà ở nhiều nơi.

b.2.2) Nhà thuê để ở bao gồm cả trường hợp ở khách sạn, ở nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ, ở nơi làm việc, ở trụ sở cơ quan,... không phân biệt cá nhân tự thuê hay người sử dụng lao động thuê cho người lao động.

Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại Khoản này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là cá nhân cư trú của nước nào thì cá nhân đó là cá nhân cư trú tại Việt Nam.

Việc chứng minh là đối tượng cư trú của nước khác được căn cứ vào Giấy chứng nhận cư trú. Trường hợp cá nhân thuộc nước hoặc vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định thuế với Việt Nam không có quy định cấp Giấy chứng nhận cư trú thì cá nhân cung cấp bản chụp Hộ chiếu để chứng minh thời gian cư trú.

2. Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện nêu tại Khoản 1 Điều này”.

Căn cứ tính thuế

Tại Điều 7 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định:

“Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công là thu nhập tính thuế và thuế suất, cụ thể như sau:

1. Thu nhập tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế theo hướng dẫn tại Điều 8 Thông tư này trừ (-) các khoản giảm trừ sau:

a) Các khoản giảm trừ gia cảnh theo hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư này.

b) Các khoản đóng bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện theo hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 9 Thông tư này.

c) Các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học theo hướng dẫn tại Khoản 3 Điều 9 Thông tư này.

2. Thuế suất

Thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công được áp dụng theo Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 22 Luật Thuế thu nhập cá nhân, cụ thể như sau:

biểu thuế

3. Cách tính thuế

Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công là tổng số thuế tính theo từng bậc thu nhập. Số thuế tính theo từng bậc thu nhập bằng thu nhập tính thuế của bậc thu nhập nhân (×) với thuế suất tương ứng của bậc thu nhập đó...”.

Tại Điều 18 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định:

“1. Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định bằng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công nhân (×) với thuế suất 20%.

2. Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định như đối với thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú theo hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 8 Thông tư này.

Việc xác định thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công tại Việt Nam trong trường hợp cá nhân không cư trú làm việc đồng thời ở Việt Nam và nước ngoài nhưng không tách riêng được phần thu nhập phát sinh tại Việt Nam thực hiện theo công thức sau:

a) Đối với trường hợp cá nhân người nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam:

Tổng thu nhập phát sinh tại Việt Nam = (Số ngày làm việc cho công việc tại Việt Nam/Tổng số ngày làm việc trong năm) x Thu nhập từ tiền lương, tiền công toàn cầu (trước thuế) + Thu nhập chịu thuế khác (trước thuế) phát sinh tại Việt Nam

Trong đó: Tổng số ngày làm việc trong năm được tính theo chế độ quy định tại Bộ luật Lao động của Việt Nam.

b) Đối với các trường hợp cá nhân người nước ngoài hiện diện tại Việt Nam:

Tổng thu nhập phát sinh tại Việt Nam = (Số ngày có mặt ở Việt Nam/365 ngày) x Thu nhập từ tiền lương, tiền công toàn cầu (trước thuế) + Thu nhập chịu thuế khác (trước thuế) phát sinh tại Việt Nam

Thu nhập chịu thuế khác (trước thuế) phát sinh tại Việt Nam tại Điểm a, b nêu trên là các khoản lợi ích khác bằng tiền hoặc không bằng tiền mà người lao động được hưởng ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả hoặc trả hộ cho người lao động”.

Căn cứ các quy định trên, trường hợp người nộp thuế có mặt tại Việt Nam trong năm 2020 dưới 183 ngày nếu có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp: Có nơi ở thường xuyên theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế thoả mãn quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính thì được xác định là cá nhân cư trú.

Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị ông căn cứ vào tình hình thực tế để xác định tình trạng cư trú và thực hiện kê khai nộp thuế theo quy định.

Theo Chinhphu.vn

Theo Chinhphu.vn

Đọc thêm

Thuế tỉnh Quảng Ngãi trực tiếp “cầm tay chỉ việc” để hộ kinh doanh hiểu đúng, làm đúng

Thuế tỉnh Quảng Ngãi trực tiếp “cầm tay chỉ việc” để hộ kinh doanh hiểu đúng, làm đúng

(TBTCO) - Triển khai kế hoạch “15 ngày cao điểm đồng hành, hỗ trợ hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh”, Thuế tỉnh Quảng Ngãi đã trực tiếp hỗ trợ theo hình thức “cầm tay chỉ việc” cho 10.885 hộ kinh doanh, giúp người nộp thuế hiểu đúng, làm đúng ngay từ đầu.
Hướng dẫn chính sách thuế với giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa

Hướng dẫn chính sách thuế với giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 32/2026/TT-BTC hướng dẫn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đối với giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 27/3/2026.
Thuế tỉnh Điện Biên tuyên truyền, tạo thuận lợi tối đa cho người nộp thuế quyết toán thuế

Thuế tỉnh Điện Biên tuyên truyền, tạo thuận lợi tối đa cho người nộp thuế quyết toán thuế

(TBTCO) - Trong kỳ quyết toán thuế năm 2025, Thuế tỉnh Điện Biên đã chủ động đẩy mạnh tuyên truyền, tạo điều kiện thuận lợi tối đa để các tổ chức, cá nhân thực hiện quyết toán thuế một cách thuận tiện, nhanh chóng và đúng thời gian quy định.
Hoàn thiện Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế theo hướng giảm rủi ro cho người nộp thuế

Hoàn thiện Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế theo hướng giảm rủi ro cho người nộp thuế

(TBTCO) - Việc hoàn thiện các quy định theo hướng rõ ràng, minh bạch và khả thi sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế; đồng thời tạo thuận lợi cho người nộp thuế trong quá trình thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
Thuế Quảng Ninh hỗ trợ cá nhân kinh doanh đăng ký, kê khai và nộp thuế theo phương pháp kê khai

Thuế Quảng Ninh hỗ trợ cá nhân kinh doanh đăng ký, kê khai và nộp thuế theo phương pháp kê khai

(TBTCO) - Từ năm 2026, hàng chục nghìn hộ kinh doanh tại Quảng Ninh bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng khi thực hiện kê khai thuế theo doanh thu thực tế. Không chỉ thay đổi cách tính thuế, đây còn là bước tiến lớn trong minh bạch hóa hoạt động kinh doanh. Trước những bỡ ngỡ ban đầu, ngành Thuế Quảng Ninh đã triển khai hàng loạt giải pháp đồng hành, giúp người nộp thuế thích nghi nhanh chóng và thực hiện đúng quy định ngay từ những kỳ kê khai đầu tiên.
Ứng dụng AI, Hải quan Khu công nghiệp Đà Nẵng đồng hành doanh nghiệp chuyển đổi số

Ứng dụng AI, Hải quan Khu công nghiệp Đà Nẵng đồng hành doanh nghiệp chuyển đổi số

(TBTCO) - Thực hiện chủ trương tạo thuận lợi thương mại, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong khai báo hải quan cho thấy quyết tâm của Hải quan Khu công nghiệp Đà Nẵng, Chi cục Hải quan khu vực XII trong việc đồng hành cùng doanh nghiệp, giảm sai sót, rút ngắn thời gian thông quan và nâng cao chất lượng tuân thủ.
5 vấn đề doanh nghiệp “đặt hàng” khi hoàn thiện Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế

5 vấn đề doanh nghiệp “đặt hàng” khi hoàn thiện Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế

(TBTCO) - Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 sẽ có hiệu lực từ 1/7/2026, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Đậu Anh Tuấn cho rằng, chất lượng các nghị định hướng dẫn sẽ quyết định trực tiếp trải nghiệm tuân thủ của hàng triệu người nộp thuế. VCCI đề xuất 5 nhóm vấn đề cần được hoàn thiện để chính sách đi vào cuộc sống.
Tuyên Quang: Hải quan Thanh Thủy củng cố “phòng tuyến nhân dân” chống buôn lậu

Tuyên Quang: Hải quan Thanh Thủy củng cố “phòng tuyến nhân dân” chống buôn lậu

(TBTCO) - Thông qua tuyên truyền trực tiếp tại thôn Nà Toong (Thanh Thủy, Tuyên Quang), lực lượng hải quan và các đơn vị phối hợp đã nâng cao nhận thức pháp luật, phát huy vai trò người dân trong phát hiện, tố giác buôn lậu, ma túy, góp phần giữ vững an ninh biên giới từ cơ sở.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều