Tín dụng đen đe dọa đời sống công nhân lao động, làm nhiễu loạn thị trường cho vay tiêu dùng

(TBTCO) - Lợi dụng khó khăn về tài chính của đa số người dân sau dịch Covid-19, tín dụng đen ngày càng nở rộ và hoạt động mạnh. Đặc biệt, chúng đe dọa trực tiếp đến đời sống tinh thần và vật chất của tầng lớp công nhân lao động vốn khó tiếp cận với các khoản vay cá nhân từ ngân hàng.
aa

Công nhân lao động lao đao vì tín dụng đen

Mới đây, Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Phước đã đề nghị cơ quan chức năng vào cuộc điều tra, xử lý vụ cán bộ công đoàn cơ sở bị đe dọa, gán ghép ảnh đăng lên mạng xã hội để lăng mạ.

Người bị đe dọa là bà T.T.T, cán bộ công đoàn Công ty TNHH New Apparel Far Eastern Việt Nam có địa chỉ tại Khu công nghiệp Đồng Phú, huyện Đồng Phú, Bình Phước. Theo tường trình của bà T, ngày 9/5, bà nhận được cuộc gọi từ một số máy lạ nói 2 công nhân của công ty bà vay tiền của họ và yêu cầu bà T báo công nhân trả lại tiền.

Tín dụng đen đe dọa đời sống công nhân lao động, làm nhiễu loạn thị trường cho vay tiêu dùng
Tín dụng đen đe dọa đời sống công nhân lao động, làm nhiễu loạn thị trường cho vay tiêu dùng.

Ban đầu, người gọi đến nói chuyện lịch sự nên bà T bảo để kiểm tra thông tin trên rồi sẽ báo lại. Tuy nhiên sau đó tiếp tục có số máy lạ gọi tới chửi bới, đọc ngày tháng năm sinh và tên người thân của bà T đe dọa. Thậm chí dọa giết chồng, con của bà T nếu không hỗ trợ họ đòi nợ. Sau đó, bà T phát hiện bị người khác cắt ghép hình ảnh, dựng thông tin sai sự thật đăng lên Facebook của công ty để lăng mạ bà.

Liên quan vụ việc, 2 công nhân được nhắc tới cho biết có vay lãi nặng, trong đó: một người vay 50 triệu đồng, đã trả cả gốc và lãi 65 triệu đồng, trả xong từ năm 2020. Một người khác vay 40 triệu đồng, đã trả được hơn 30 triệu đồng, vẫn còn trong thời hạn trả nợ. Cả 2 công nhân này đều khẳng định không điền thông tin liên hệ của bà T khi vay.

Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Phước cho rằng sự việc trên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, danh dự của bà T. Đồng thời, tổ chức này đề nghị các lực lượng chức năng có biện pháp bảo vệ đối với bà T trước những hành vi trên.

Bên cạnh đó, gần đây, dù không vay và không bảo lãnh cho người khác vay nhưng nhiều người dân xã Ea H’đing, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk lại bị các đối tượng “đòi nợ thuê” khủng bố điện thoại, bằng hàng trăm cuộc gọi, tin nhắn uy hiếp mỗi ngày.

Chị H ở buôn Jok, xã Ea H’đing phản ánh, những ngày qua, chị thường xuyên bị các đối tượng xưng danh là người của tổ chức tín dụng cho vay tiền qua App nhắn tin, gọi điện. Họ yêu cầu chị H. phải có trách nhiệm với khoản vay của một người bạn. Mặc dù chị H đã giải thích việc vay mượn này không liên quan đến mình, nhưng bên đòi nợ liên tục gọi.

Tín dụng chính thống bị “đánh đồng”

Không những đòi nợ táo tợn như các trường hợp nói trên, các đối tượng tín dụng đen còn mạo danh nhân viên thu hồi nợ của công ty tài chính để đòi nợ một cách công khai từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín đến các các tổ chức tài chính truyền thống và làm nhiễu loạn thị trường tài chính tiêu dùng.

Bởi lẽ những hành vi này đã và đang phần nào gây hậu quả nghiệm trọng, mất lòng tin của người dân khi nhầm lẫn giữa vay tiêu dùng và tín dụng đen; đồng thời cứ nhắc đến khủng bố đòi nợ thì một số bộ phận đều lầm tưởng đó là của các công ty tài chính.

Là doanh nghiệp có thị phần lớn nhất thị trường cho vay tiêu dùng, gần đây Công ty Tài chính VPBank SMBC (FE CREDIT) đã ghi nhận các phản hồi của người dân về việc nhận các cuộc gọi, tin nhắn đòi nợ được xem là của doanh nghiệp này. Tuy nhiên, sau khi kiểm tra thông tin trên hệ thống, các số điện thoại nhắc nợ của những người này đều không thuộc thẩm quyền quản lý của FE CREDIT.

Đại diện FE CREDIT cho biết tín dụng đen đã ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của các công ty tài chính hoạt động trong lĩnh vực vay tiêu dùng. Đặc biệt là trong bối cảnh các app cho vay online xuất hiện tràn lan và khó kiểm soát, khiến khách hàng không thể phân biệt app cho vay chính thống và các app cho vay tiền núp bóng tín dụng đen.

“Người đi vay cần tìm hiểu kỹ thông tin điều khoản, dịch vụ, các quy định về lãi, phí, hạn mức trả nợ… trước khi quyết định vay tiền qua app. Người vay cần phải tìm hiểu, lựa chọn vay qua app của các công ty tài chính uy tín, với các chính sách về lãi suất vay công khai, minh bạch. Hiện tại FE CREDIT vẫn liên tục nâng cấp ứng dụng duyệt vay tự động ra mắt từ năm 2018 để giúp khách hàng tiếp cận với thủ tục vay tài chính một cách an toàn, thuận tiện hơn.” - đại diện công ty chia sẻ.

Đồng thời, hiểu rõ trách nhiệm và vai trò của một tổ chức tín dụng hợp pháp, công ty cũng liên tục mở rộng mạng lưới phân phối và đẩy mạnh truyền thông, giáo dục kiến thức tài chính tiêu dùng trong cộng đồng, nhằm tạo điều kiện tiếp cận của người dân nói chung, công nhân nói riêng tới nguồn tín dụng an toàn chính thống, góp phần đẩy lùi tín dụng đen.

Mới đây, tại buổi đối thoại của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính với công nhân lao động sáng ngày 12/6, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú cho biết: "Chúng tôi sẽ đẩy mạnh tín dụng toàn diện này để tăng cường khả năng tiếp cận của người dân nói chung, công nhân và nông dân nói riêng".

Cũng theo ông Đào Minh Tú, FE CREDIT là một trong hai công ty tài chính nhận chỉ đạo triển khai gói 10.000 tỷ đồng, với lãi suất bằng 50% lãi suất các công ty đang cho vay, để đáp ứng nhu cầu chính đáng của công nhân. Ông mong có sự phối hợp của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam để cho vay thuận tiện, đúng đối tượng, quản lý sử dụng, để có thể trả nợ được./.

H.C

Đọc thêm

PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

(TBTCO) - PVcomBank vừa được HNX chấp thuận đăng ký giao dịch 900 triệu cổ phiếu, đồng thời lên kế hoạch tăng vốn thêm 3.000 tỷ đồng sau hơn một thập kỷ giữ nguyên vốn điều lệ. Dù lợi nhuận gần đây khởi sắc, ngân hàng này vẫn đối mặt bài toán xử lý nợ xấu và hàng loạt cảnh báo về nợ xấu, tăng trưởng tín dụng, giới hạn cấp tín dụng và dư nợ bất động sản.
Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại HR Asia Awards 2026 với nhiều hạng mục giải thưởng gồm: Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Companies to Work for in Asia), cùng với các hạng mục đặc biệt về “Chuyển đổi Năng lực Nhân sự” (People Transformation) và “Dẫn đầu Công nghệ” (Tech Empowerment).
SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu tổ chức hỗ trợ chi trả thực hiện chi trả trực tiếp tại nhà đối với người già yếu, không có khả năng đến điểm chi trả để nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng. Đồng thời, kịp thời thông báo trước khi văn bản ủy quyền hết hiệu lực, bảo đảm chi trả liên tục, đúng quy định và tạo thuận lợi tối đa cho người hưởng.
Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

(TBTCO) - Sáng 16/7, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.243 đồng, trong khi giá bán USD tại nhiều ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá trần 55 đồng. Chỉ số DXY giảm 0,04% còn 100,48 điểm sau khi lạm phát Mỹ thấp hơn kỳ vọng, củng cố quan điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục "chờ và quan sát", trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Canada giữ nguyên lãi suất 2,25%.
Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đẩy nhanh lộ trình triển khai chuẩn mực vốn Basel trên toàn hệ thống. Tại cuộc họp ngày 15/7, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước yêu cầu khẩn trương hoàn thiện các dự thảo văn bản, trong đó có dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN; đồng thời xây dựng kế hoạch tập huấn, giải đáp các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai.
Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,800 ▼700K 146,800 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,800 ▼700K 146,800 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,800 ▼700K 146,800 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,800 ▼700K 146,800 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,800 ▼700K 146,800 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,800 ▼700K 146,800 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,520 14,820
Miếng SJC Nghệ An 14,520 14,820
Miếng SJC Thái Bình 14,520 14,820
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,370 14,720
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,370 14,720
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,370 14,720
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,910 14,610
Trang sức 99.99 13,920 14,620
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,452 14,822
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,452 14,823
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,437 1,472
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,437 1,473
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,412 1,452
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,762 143,762
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 109,061
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,096 98,896
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,931 88,731
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,501 8,481
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,904 60,704
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Cập nhật: 17/07/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17843 18117 18693
CAD 18172 18448 19068
CHF 31829 32210 32858
CNY 0 3834 3928
EUR 29419 29640 30721
GBP 34577 34969 35907
HKD 0 3217 3420
JPY 154 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15040 15628
SGD 19804 20086 20662
THB 697 760 813
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,060 26,060 26,440
USD(1-2-5) 25,018 - -
USD(10-20) 25,018 - -
EUR 29,530 29,554 30,965
JPY 157.17 157.45 166.95
GBP 34,735 34,829 36,039
AUD 18,031 18,096 18,777
CAD 18,356 18,415 19,094
CHF 32,068 32,168 33,115
SGD 19,918 19,980 20,765
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,280 3,290 3,428
KRW 16.38 17.08 18.58
THB 745.12 754.32 807.55
NZD 15,014 15,153 15,601
SEK - 2,674 2,769
DKK - 3,950 4,089
NOK - 2,666 2,765
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,008.13 - 6,782.2
TWD 734.41 - 889.63
SAR - 6,868.07 7,238.02
KWD - 83,059 88,370
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,568 29,687 30,881
GBP 34,916 35,056 36,093
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 32,074 32,203 33,139
JPY 157.94 158.57 166.49
AUD 18,031 18,103 18,699
SGD 20,027 20,107 20,698
THB 762 765 801
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 15,101 15,646 0
KRW 16.90 18.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26440
AUD 18005 18105 19028
CAD 18348 18448 19462
CHF 32058 32088 33678
CNY 3815.4 3840.4 3976.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29585 29615 31340
GBP 34859 34909 36667
HKD 0 3355 0
JPY 158.14 158.64 169.18
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15131 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19958 20088 20814
THB 0 725.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 18,061 18,161 19,268
EUR 29,453 29,553 31,211
CAD 18,288 18,388 19,695
SGD 20,071 20,221 20,780
JPY 158.89 160.39 165.93
GBP 34,932 35,082 36,139
XAU 14,518,000 0 14,822,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/07/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80