Từ chuyện nóng giá vàng, tìm giải pháp đánh thức nguồn lực vàng trong dân

Chí Tín
(TBTCO) - Giá vàng trong những ngày qua tiếp tục xu hướng tăng và thêm các kỷ lục mới được thiết lập. Trong bối cảnh này, một số quan điểm cho rằng, cần có giải pháp huy động vàng trong dân để đưa khối lượng vàng ước tính hàng trăm nghìn tấn vào phục vụ mục đích phát triển kinh tế.
aa
Từ chuyện nóng giá vàng, tìm giải pháp đánh thức nguồn lực vàng trong dân
Nguồn: Bộ Tài chính. Đồ họa: Phương Anh

Vàng nhẫn tăng mạnh, giãn xa giá thế giới

Giá vàng những ngày qua vẫn tiếp tục nóng lên. Trong đó, vàng miếng dù vẫn “cheo leo” ở mức giá ngày càng cao, nhưng xét về tốc độ tăng giá, vàng nhẫn lại đang có tốc độ tăng giá nhanh hơn.

Tại thời điểm sáng ngày 12/3, giá vàng nhẫn SJC 9999 đã tăng lên mặt bằng 69 triệu đồng/lượng mua vào và 70,25 triệu đồng/lượng bán ra, tăng thêm khoảng 150 nghìn đồng mỗi lượng so với chiều hôm trước. Trong khi đó, giá vàng miếng SJC 9999 ghi nhận ở chiều mua vào 80,3 triệu đồng/lượng và 82,3 triệu đồng/lượng bán ra.

Bức tranh về diễn biến nhu cầu giao dịch vàng trên thế giới

Báo cáo Nhu cầu Xu hướng vàng năm 2023 của Hiệp hội Vàng thế giới (WGC) công bố trong quý I/2024 cho thấy, tổng khối lượng vàng được giao dịch trên toàn cầu năm 2023 đạt 4.899 tấn, cao hơn 158 tấn so với năm 2022. Yếu tố lớn nhất thúc đẩy nhu cầu vàng năm 2023 là xung đột Nga - Ukraine, xung đột Israel - Hamas và sự xuống dốc của kinh tế Trung Quốc.

Giá vàng trong nước tiếp tục chịu sự ảnh hưởng bởi thị trường thế giới khi giá vàng thế giới sáng ngày 12/3 đã ở mặt bằng khoảng 2.180 USD/ounce. Tốc độ tăng của giá vàng theo đó vượt trước cả những dự báo trước đây của một số tổ chức tài chính quốc tế. Cụ thể, hồi cuối tháng 2/2024, Goldman Sachs đưa ra một báo cáo dự báo giá vàng có thể tăng lên 2.175 USD/ounce trong vòng 12 tháng tới. Lập luận của cơ quan này cho rằng, hoạt động mua vào của các ngân hàng trung ương và nhu cầu mua lẻ tại các thị trường mới nổi gia tăng. Dù vậy, từ khi dự báo này đưa ra đến nay mới chưa đầy 1 tháng, giá vàng thực tế đã vượt lên cao hơn cả mức dự báo trên.

Trong khi đó với giá vàng trong nước, vàng nhẫn thời gian qua đã tăng nhanh hơn so với vàng miếng và hiện chênh lệch giữa 2 loại vàng này chỉ còn khoảng hơn 11 triệu đồng/lượng. Với tốc độ tăng giá của vàng nhẫn như những ngày gần đây, khoảng cách giữa giá vàng nhẫn trong nước và giá vàng thế giới cũng đang dần rộng hơn. Cụ thể, với giá vàng thế giới đang ở mức 2.180 USD/ounce, quy đổi ra tỷ giá theo tỷ giá trung tâm của Ngân hàng Nhà nước, tương đương với khoảng hơn 63 triệu đồng/lượng. Mức giá này vẫn thấp hơn khoảng 7 - 8 triệu đồng mỗi lượng với giá vàng nhẫn trong nước hiện nay.

Tìm giải pháp thu hút nguồn lực vàng

Hiện nay, lãi suất trong nước vẫn đang ở mặt bằng thấp, cụ thể, lãi suất thị trường liên ngân hàng với kỳ hạn qua đêm hiện giảm về chỉ còn 0,77%/năm. Lãi suất các kỳ hạn khác cũng khá thấp với 1%/năm với kỳ hạn 1 tuần, 1,47% với kỳ hạn 2 tuần, 2,05% với kỳ hạn 1 tháng, 2,54% với kỳ hạn 3 tháng… Tại thị trường ngoài khu vực dân cư, lãi suất huy động kỳ hạn từ 3 tháng trở xuống chỉ còn quanh mức 2%/năm, một số ngân hàng để lãi suất thậm chí chỉ còn 1,7%/năm với kỳ hạn dưới 3 tháng. Trong khi đó, tín dụng của hệ thống ngân hàng trong 2 tháng đầu năm 2024 không những không tăng mà còn giảm, diễn biến này khiến cho các ngân hàng cũng không chịu nhiều áp lực cần phải tăng lãi suất huy động.

Trong môi trường lãi suất tiền gửi thấp như hiện nay, thị trường vàng là một trong những kênh đầu tư được người dân tìm đến để trú ẩn và đó là một nhu cầu thực tế của nền kinh tế.

Thực tế, nhu cầu nắm giữ vàng để cất trữ không phải mới xuất hiện gần đây, mà đã là thói quen hình thành lâu đời trong dân. PGS.TS. Ngô Trí Long - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thị trường giá cả (Bộ Tài chính) cho biết, vàng vốn được xem là kênh đầu tư an toàn, là “vịnh tránh bão” cho dòng tiền để chống lại khủng hoảng, lạm phát cũng như sự mất giá của tiền tệ. Trong xu thế hiện nay, dưới tác động của biến động tài chính toàn cầu, địa chính trị luôn bất ổn…, ẩn chứa nhiều rủi ro, thì việc giá vàng đang có xu hướng ngày một tăng đang là một kênh được nhiều nhà đầu tư hướng tới.

Tại thị trường trong nước hiện nay, chênh lệch giá mua vào/bán ra của vàng khá lớn với mức chênh khoảng 2 triệu đồng/lượng với vàng miếng và khoảng 1,2 triệu đồng/lượng với vàng nhẫn. Với sự chênh lệch lớn như trên, rủi ro cho người mua bán ngắn hạn là khá cao, nhưng thực tế giá vàng trong nước vẫn tăng, cho thấy người dân đang có xu hướng sẵn sàng mua và nắm giữ dài hạn. Theo ước tính của TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính độc lập, lượng vàng đang nằm trong dân hiện đang rất lớn và có thể lên tới khoảng 400 tấn vàng.

Đây là một nguồn lực rất lớn và để khơi dậy nguồn lực này, thời gian qua một số nhà kinh tế đưa ra quan điểm cần thực hiện giải pháp phát hành chứng chỉ vàng và tổ chức thị trường cho người dân có thể giao dịch dễ dàng các giấy tờ này. Theo đó, thay vì để người dân nắm giữ vàng vật chất, chứng chỉ vàng được nhà nước đảm bảo cho người dân mọi quyền lợi như nắm giữ vật chất, qua đó huy động được khối lượng vàng lớn trong dân để vàng trở thành một nguồn lực hữu ích có thể phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đất nước.

Từ chuyện nóng giá vàng, tìm giải pháp đánh thức nguồn lực vàng trong dân

TS. NGUYỄN TRÍ HIẾU - CHUYÊN GIA KINH TẾ: Có thể phát hành chứng chỉ vàng để huy động vàng trong dân

Khối lượng vàng vật chất ước tính có thể tới 400 tấn nằm im trong tủ và két sắt của các hộ dân là sự lãng phí rất lớn đối với nền kinh tế. Đó là một khối tài sản quý giá, có thể dùng để sử dụng nhiều việc cho phát triển đất nước, phục vụ các mục đích ích nước lợi dân.

Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên quay trở lại cách làm như từng làm trước đây. Đó là cho phép các ngân hàng huy động vàng rồi sau đó các ngân hàng đem vàng cho vay, vì như vậy chúng ta lại quay lại thời kỳ nền kinh tế bị “vàng hóa”.

Trong bối cảnh cảnh này, tôi cho rằng giải pháp hợp lý nhất là Ngân hàng Nhà nước đứng ra làm cơ quan phát hành chứng chỉ vàng thông qua mạng lưới của các ngân hàng thương mại (ngân hàng thường mại chỉ làm đại lý). Chứng chỉ vàng đó có thể được phát hành có kỳ hạn và người dân có thể được phép mua bán chứng chỉ vàng, đảm bảo các quyền lợi như nắm giữ vàng.

Thông qua việc này, Ngân hàng Nhà nước có thể huy động một số vàng rất lớn từ dân cư, sau đó có thể cho Chính phủ vay lại số vàng này để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau. Chẳng hạn như, Chính phủ có thể dùng số vàng đó làm tài sản thế chấp khi cần vay ngoại tệ trên thị trường quốc tế. Việc Chính phủ vay ngoại tệ được thế chấp bằng vàng có thể giúp cho các khoản vay của Chính phủ được tối ưu về lãi suất, giảm cho phí vay vốn.

Từ chuyện nóng giá vàng, tìm giải pháp đánh thức nguồn lực vàng trong dân

PGS.TS NGÔ TRÍ LONG - NGUYÊN VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG GIÁ CẢ (BỘ TÀI CHÍNH): Chính sách quản lý thị trường vàng cần linh hoạt

Thị trường vàng là một bộ phận hữu cơ của thị trường tài chính tiền tệ . Do vậy, việc quản lý thị trường vàng là một nội dung quan trọng của công tác quản lý chung của bất kỳ một quốc gia nào. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, sự quản lý của mỗi quốc gia ngoài việc đòi hỏi phải xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, phải phù hợp với thông lệ quốc tế. Chính sách và các biện pháp quản lý đối với thị trường vàng cần linh hoạt với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, không có một chính sách, một biện pháp nào đúng cho mọi giai đoạn.

Trong giai đoạn hiện nay, giải pháp có thể nghĩ đến là nghiên cứu thành lập một sở giao dịch hàng hóa, trong đó có vàng như các nước đã làm. Các thành viên tham gia phải đáp ứng những tiêu chuẩn chặt chẽ, được phép xuất nhập khẩu vàng. Ngoài ra, chúng ta cũng cần nghĩ đến việc cho phép thành lập các quỹ tín thác bằng vàng (ETF- Exchange Traded Fund) như một công cụ tài chính quốc tế. Chứng chỉ quỹ cũng có thể được mua bán trên sở giao dịch sẽ khuyến khích người dân gửi vàng, bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh, đầu tư thay vì nắm giữ vàng vật chất.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

(TBTCO) - Giá vàng tăng nhẹ trong phiên giao dịch đầu ngày 31/3, với giá vàng tương lai tại New York tăng 0,7% lên 4.589,30 USD/ounce, nhưng vẫn đang trên đà ghi nhận mức giảm hàng tháng lớn nhất trong gần 17 năm.
Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 23 - 27/3 cho thấy, tỷ giá USD/VND tăng mạnh đầu tuần rồi hạ nhiệt về cuối tuần, với tỷ giá USD tự do có lúc chạm 28.000 đồng, nối dài đà tăng 5 tuần. Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt theo hướng “bơm hút" nhịp nhàng, vừa bán USD kỳ hạn và hút ròng để giảm áp lực tỷ giá; sau đó, nhanh chóng bơm ròng trở lại khi lãi suất liên ngân hàng vượt 8%.
Giá vàng hôm nay ngày 28/3: Giá vàng tăng nhẹ từ 100.000 - 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 28/3: Giá vàng tăng nhẹ từ 100.000 - 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 28/3 tăng trở lại tại nhiều doanh nghiệp, với mức điều chỉnh phổ biến 100.000 - 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 27/3: Giá vàng giảm về vùng 168 - 171 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 27/3: Giá vàng giảm về vùng 168 - 171 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 27/3 đồng loạt giảm tại nhiều doanh nghiệp, đưa mặt bằng giao dịch về quanh 168 - 171 triệu đồng/lượng, với mức giảm phổ biến từ 2 đến hơn 4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Giá vàng hôm nay ngày 26/3: Giá vàng tiếp tục tăng tại các thương hiệu lớn

Giá vàng hôm nay ngày 26/3: Giá vàng tiếp tục tăng tại các thương hiệu lớn

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi lên tính đến sáng ngày 26/3. Cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng giá, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 170 - 175 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Kim TT/AVPL 17,380 ▲180K 17,680 ▲180K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Nguyên Liệu 99.99 15,920 ▼30K 16,120 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 15,870 ▼30K 16,070 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,870 ▼30K 17,170 ▼30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,820 ▼30K 17,120 ▼30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,750 ▼30K 17,100 ▼30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
NL 99.90 15,870 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,900 ▲100K
Trang sức 99.9 16,840 ▲180K 17,540 ▲180K
Trang sức 99.99 16,850 ▲180K 17,550 ▲180K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,737 ▲18K 17,672 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,737 ▲18K 17,673 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,735 ▲18K 1,765 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,735 ▲18K 1,766 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,715 ▲18K 175 ▼1557K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 166,767 ▲1782K 173,267 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 122,513 ▲1350K 131,413 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 110,262 ▲1224K 119,162 ▲1224K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 98,011 ▲1098K 106,911 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 93,285 ▲1049K 102,185 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 64,232 ▲750K 73,132 ▲750K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Cập nhật: 01/04/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17733 18007 18582
CAD 18421 18698 19314
CHF 32507 32891 33535
CNY 0 3470 3830
EUR 29864 30136 31162
GBP 34162 34553 35494
HKD 0 3229 3431
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 14865 15448
SGD 19972 20254 20781
THB 723 786 840
USD (1,2) 26070 0 0
USD (5,10,20) 26111 0 0
USD (50,100) 26139 26159 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,360
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,986 30,010 31,252
JPY 161.73 162.02 170.78
GBP 34,355 34,448 35,421
AUD 17,934 17,999 18,563
CAD 18,593 18,653 19,223
CHF 32,713 32,815 33,576
SGD 20,094 20,156 20,815
CNY - 3,795 3,913
HKD 3,291 3,301 3,419
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 772 781.53 832.13
NZD 14,854 14,992 15,344
SEK - 2,753 2,833
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,674 2,752
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,111.86 - 6,857.48
TWD 744.46 - 896.33
SAR - 6,894.3 7,218.62
KWD - 83,531 88,332
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 29,882 30,002 31,178
GBP 34,215 34,352 35,350
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,429 32,559 33,474
JPY 161.75 162.40 169.70
AUD 17,868 17,940 18,525
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 788 791 826
CAD 18,591 18,666 19,228
NZD 14,885 15,413
KRW 16.73 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26326 26226 26360
AUD 17926 18026 18954
CAD 18602 18702 19718
CHF 32787 32817 34400
CNY 3770.7 3795.7 3931
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30071 30101 31824
GBP 34501 34551 36308
HKD 0 3355 0
JPY 162.45 162.95 173.46
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14982 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20137 20267 21002
THB 0 752.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17370000 17370000 17670000
SBJ 16000000 16000000 17670000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,164 26,214 26,360
USD20 26,164 26,214 26,360
USD1 26,164 26,214 26,360
AUD 17,889 17,989 19,100
EUR 30,155 30,155 31,564
CAD 18,530 18,630 19,942
SGD 20,176 20,326 20,891
JPY 162.97 164.47 169.01
GBP 34,308 34,658 35,526
XAU 17,298,000 0 17,602,000
CNY 0 3,675 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/04/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80