Tỷ giá VND/USD vấp trần "mềm", giá vàng "tuột phanh trôi dốc"

Đỗ Minh
Tỷ giá VND/USD dường như đang “vấp” phải trần mềm ở chiều bán ra, nhưng lại tăng lên mạnh ở chiều mua vào. Còn giá vàng trên thị trường trong nước và thế giới lại cùng chung hướng diễn biến thụt lùi.
aa

Tỷ giá thu hẹp mạnh mức chênh giá bán ra – mua vào

Tỷ giá VND/USD dường như đang “vấp” phải một mức “trần mềm”, khi giá USD ở chiều bán ra ở khối các ngân hàng thương mại cổ phần và nước ngoài phần lớn đều áp sát mức 21.850 đồng/USD, còn 3 “ông” lớn do Nhà nước nắm cổ phần chi phối là BIDV, Vietcombank và Vietinbank thì vẫn neo ở mức 21.830 đồng/USD.

Tuy nhiên, ở chiều mua vào, thì cả BIDV, Vietcombank và Vietinbank đều niêm yết ở mức cao nhất trên thị trường và đang niêm yết giá mua vào ở mức 21.770 đến 21.790 đồng/USD.

Điều này cũng đồng nghĩa rằng, còn 3 “ông” lớn do Nhà nước nắm cổ phần chi phối là BIDV, Vietcombank và Vietinbank đang chịu thiệt hơn so với các ngân hàng thương mại cổ phần khác khi đang chấp nhận ở mức giá “mua cao – bán thấp”.

Cụ thể, tại thời điều đầu giờ giao dịch chiều 20/5 (lúc 13 giờ 48 phút), tỷ giá VND/USD niêm yết tại BIDV và Vietcombank cùng đứng ở mức giá 21.770 – 21.830 đồng/USD (mua vào – bán ra), giữ nguyên mức giá bán ra và tăng 10 đồng/USD ở chiều mua vào so với ngày 19/5.

Còn Vietinbank tuy có cùng mức giá bán ra là 21.830 đồng/USD, nhưng ở chiều mua vào lại niêm yết tăng lên tới 25 đồng/USD và niêm yết ở mức giá mua vào là 21.790 đồng/USD.

Ngân hàng đang niêm yết mức giá USD chiều bán ra cao nhất hiện tại vẫn đang giữ nguyên mức niêm yết của ngày 19/5 là 21.750 – 21.850 đồng/USD.

Trong khi đó, các ngân hàng thương mại cổ phần khác hiện đã tiếp tục tăng mức niêm yết ở chiều bán ra áp sát mức giá 21.850 đồng/USD. Cụ thể, ngân hàng Techcombank đã tăng thêm 10 đồng/USD ở cả hai chiều mua vào – bán ra so với ngày 19/5 và đứng ở mức 21.750 – 21.845 đồng/USD.

Eximbank đang niêm yết ở mức giá mua vào – bán ra là 21.770 – 21.840 đồng/USD; ACB niêm yết ở mức 21.760 – 21.840 đồng/USD; TPBank cũng điều chỉnh tăng lên mức 21.760 – 21.840 đồng/USD; VIB đứng ở mức 21.760 – 21.840 đồng/USD; Sacombank đang niêm yết ở mức 21.760 – 21.840 đồng/USD; SHB đang niêm yết ở mức 21.775 – 21.840 đồng/USD.

Như vậy tỷ giá VND/USD ở các ngân hàng thương mại hiện chỉ còn cách trần cho phép khoảng từ 60 đến 40 đồng/USD nữa mà thôi.

Song có một cảm giác rằng, trong những ngày vừa qua, khi tỷ giá biến động theo xu hướng tăng lên, thì dường như mức “trần mềm” đối với các ngân hàng thương mại cổ phần do nhà nước nắm giữ tỷ lệ cổ phiếu chi phối ở chiều bán ra thường dừng lại ở mốc 21.830 đồng/USD và các ngân hàng thương mại khác cũng không vượt qua 21.850 đồng/USD.

Một hiện tượng có thể phần nào thể hiện “sức nóng” của tỷ giá VND/USD hiện nay, đó là mặc dù ở chiều bán ra đang gặp “trần mềm”, nhưng hầu hết các ngân hàng thương mại đang nâng mức mua vào lên và chênh lệch giữa giá bán ra – mua vào hẹp lại.

Trước đây, mức chênh lệch giữa giá bán ra – mua vào khoảng từ 70 đến 100 đồng/USD, nhưng hiện tại đã thu hẹp khá mạnh, thậm chí có ngân hàng đã co hẹp xuống còn 40 đồng/USD (như mức giá hiện tại ở Vietinbank).

gia vang the gioi
Giá vàng thế giới hiện đã sụt giảm tới khoảng 15 USD/ounce so với hôm qua.

Giá vàng SJC “trôi” về mức 35 triệu đồng/lượng

Giá vàng SJC lại tiếp tục đi xuống trong phiên 20/5 và đã lùi về mức 35 triệu đồng/lượng. Cụ thể, tại thời điểm 14 giờ 15 phút chiều ngày 20/5, giá vàng SJC niêm yết trên bảng giá trực tuyến của Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn áp dụng tại TP. Hồ Chí Minh đứng ở mức 34,94 – 35,00 triệu đồng/lượng, còn tại Hà Nội và các địa phương khác đứng ở mức 34,94 – 35,02 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).

Cùng thời điểm trên, giá vàng SJC niêm yết trên bảng giá của Tập đoàn DOJI áp dụng tại Hà Nội đang có đồng mức giá bán ra là 35,00 triệu đồng/lượng, còn giá mua lẻ là 34,96 triệu đồng/lượng và giá mua buôn là 34,97 triệu đồng/lượng. Tại TP. Hồ Chí Minh, ở chiều bán ra cũng đứng đồng mức giá 34,99 triệu đồng/lượng, còn giá mua lẻ là 34,95 triệu đồng/lượng và giá mua buôn là 35,96 triệu đồng/lượng.

Giá vàng SJC hiện tại đã tiếp tục giảm thêm 40 ngàn đồng/lượng so với mức giá đóng cửa ngày 19/5 và giảm tròn 100 ngàn đồng/lượng so với mức giá đóng cửa cuối tuần trước.

Trong khi đó, giá vàng trên thị trường châu Á hiện cũng đã tiếp tục đi xuống, sau khi thiết lập mức giá khá cao trong phiên giao dịch đầu tuần xung quanh mức 1.230 USD/ounce.

Cụ thể, tại thời điểm 14 giờ 21 phút chiều ngày 20/5 (giờ Việt Nam), giá vàng giao ngay niêm yết trên sàn giao dịch Kitco của Singapore đang đứng ở mức 1.207,45 USD/ounce, giảm tới khoảng 15 USD/ounce so với mức giá cùng thời điểm chiều ngày hôm qua (19/5).

Qui đổi theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, giá vàng thế giới hiện tương đương khoảng 31,79 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng SJC bán ra tại TP. Hồ Chí Minh khoảng 3,21 triệu đồng/lượng.

Do giá vàng thế giới giảm sâu hơn, còn giá vàng trong nước chỉ giảm nhẹ, do vậy chênh lệch giá giữa 2 thị trường hôm đã lại nới thêm tới 330 ngàn đồng/lượng so với hôm qua (19/5).

Giá vàng thế giới hiện đang có diễn biến với xu thế của giá dầu thô trước sức ép của việc đồng USD đã quay trở lại tăng lên mạnh so với các đồng tiền chủ chốt khác.

Bản tin Kitco News đánh giá rằng, đồng USD đã tăng gần 1,50% so với đồng Euro, do giới đầu tư lo ngại tình hình giải quyết khủng hoảng nợ ở Hy Lạp đang bị trì trệ và kéo dài. Ngoài ra, chương trình mua trái phiếu của Ngân hàng Trung ương châu Âu có diễn ra chậm chạp hơn và thấp hơn dự kiến trước đây.

Bên cạnh đó, đồng USD còn được hưởng lợi từ số liệu khả quan về thị trường bất động sản Mỹ.

Theo đó, khi giá trị đồng USD tăng lên, thì mặt hàng như vàng và dầu – những mặt hàng được giao dịch bằng đồng USD – trở nên đắt đỏ hơn và trở thành yếu tố chính đẩy giá của 2 mặt hàng này đi xuống./.

Đỗ Minh

Đỗ Minh

Đọc thêm

Ngân hàng chặn đứng hành vi can thiệp mobile banking, hệ thống SIMO ngăn hơn 5.200 tỷ đồng nghi lừa đảo

Ngân hàng chặn đứng hành vi can thiệp mobile banking, hệ thống SIMO ngăn hơn 5.200 tỷ đồng nghi lừa đảo

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết, hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận (SIMO) đã phát cảnh báo tới khoảng 4,6 triệu lượt khách hàng, giúp tạm dừng hoặc hủy giao dịch nghi ngờ lừa đảo với tổng giá trị hơn 5.200 tỷ đồng. Các tổ chức tín dụng tiếp tục siết chặt biện pháp bảo mật thanh toán trực tuyến, phòng chống gian lận và ngăn chặn can thiệp trái phép vào ứng dụng ngân hàng.
Huy động "đuối sức" trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

Huy động "đuối sức" trước đà tăng tín dụng nhiều năm, đẩy LDR vọt lên 114%

(TBTCO) - Đại diện Ngân hàng Nhà nước khẳng định thanh khoản hệ thống vẫn dồi dào dù tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động vốn 3,8% suốt 5 năm, đẩy tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) lên 112 - 114%. Khi cần thiết, Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục nới các công cụ hỗ trợ thanh khoản.
Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

Tín dụng áp sát 20 triệu tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước lý giải việc loại room các lĩnh vực, dự án trọng điểm

(TBTCO) - Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 26/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025 và tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước. Đại diện Ngân hàng Nhà nước cũng thông tin về chính sách loại trừ room tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên và 18 dự án của các doanh nghiệp lớn.
Mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK nhận hoàn tiền tới 1.000.000 VND

Mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK nhận hoàn tiền tới 1.000.000 VND

(TBTCO) - Tận hưởng ưu đãi hoàn tiền tới 1.000.000 VND khi mở mới và chi tiêu qua thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK MasterCard trong tháng 7/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

(TBTCO) - Sáng 2/7, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng, còn 25.205 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về khoảng 26.580 - 26.610 VND/USD. Trái chiều, chỉ số DXY tăng 0,24% lên 101,4 điểm, khi đồng USD vẫn được hỗ trợ dù PMI sản xuất Mỹ tháng 6 giảm xuống 53,3 điểm, thấp hơn kỳ vọng.
MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB vừa phê duyệt kế hoạch tăng vốn thêm 6.240 tỷ đồng qua phát hành cổ phiếu với tỷ lệ 20%, đưa vốn điều lệ lên 37.440 tỷ đồng, với mục tiêu củng cố bộ đệm vốn và tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng.
Chính thức nâng trần khoản vay giá trị nhỏ gấp 4 lần, sau khi mức 100 triệu đồng trở nên “quá chật”

Chính thức nâng trần khoản vay giá trị nhỏ gấp 4 lần, sau khi mức 100 triệu đồng trở nên “quá chật”

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước chính thức nâng hạn mức khoản vay giá trị nhỏ tại các tổ chức tín dụng từ 100 triệu đồng lên 400 triệu đồng từ ngày 15/8 tới đây. Quy định mới được kỳ vọng giúp người dân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ tiếp cận vốn thuận lợi hơn nhờ thủ tục vay đơn giản hơn và thời gian xử lý hồ sơ được rút ngắn đáng kể.
Techcombank rót thêm 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life sau khi bứt tốc thị phần phí bảo hiểm

Techcombank rót thêm 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life sau khi bứt tốc thị phần phí bảo hiểm

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua kế hoạch rót thêm tối đa 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life, nâng vốn điều lệ lên 4.300 tỷ đồng, qua đó đưa doanh nghiệp vào nhóm bảo hiểm nhân thọ có vốn lớn trên thị trường. Động thái này diễn ra trong bối cảnh Techcom Life đang tăng tốc mạnh ở mảng khai thác mới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Kim TT/AVPL 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲210K 13,500 ▲210K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲210K 13,450 ▲210K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲210K 14,300 ▲210K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲210K 14,250 ▲210K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲210K 14,230 ▲210K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Hà Nội - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Đà Nẵng - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Miền Tây - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Tây Nguyên - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲200K 14,690 ▲200K
Trang sức 99.99 14,000 ▲200K 14,700 ▲200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▲20K 14,842 ▲200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▲20K 14,843 ▲200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,453 ▲20K 1,483 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,453 ▲20K 1,484 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,433 ▲20K 1,468 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,347 ▲1981K 145,347 ▲1981K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 ▲1500K 110,261 ▲1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,484 ▲1360K 99,984 ▲1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,207 ▲1220K 89,707 ▲1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,243 ▲1166K 85,743 ▲1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,872 ▲834K 61,372 ▲834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Cập nhật: 02/07/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17599 17872 18451
CAD 17971 18246 18865
CHF 31978 32360 33009
CNY 0 3831 3924
EUR 29365 29585 30666
GBP 34244 34635 35573
HKD 0 3221 3423
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14623 15210
SGD 19779 20061 20631
THB 704 767 821
USD (1,2) 26023 0 0
USD (5,10,20) 26064 0 0
USD (50,100) 26093 26107 26465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,105 26,105 26,465
USD(1-2-5) 25,061 - -
USD(10-20) 25,061 - -
EUR 29,429 29,453 30,832
JPY 157.44 157.72 167.09
GBP 34,304 34,397 35,565
AUD 17,804 17,868 18,534
CAD 18,162 18,220 18,873
CHF 32,105 32,205 33,136
SGD 19,882 19,944 20,715
CNY - 3,797 3,939
HKD 3,286 3,296 3,432
KRW 15.6 16.27 17.68
THB 752.86 762.16 815.3
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,658 2,750
DKK - 3,937 4,072
NOK - 2,606 2,697
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,011.44 - 6,783.89
TWD 744.16 - 900.75
SAR - 6,886.19 7,247.34
KWD - 83,139 88,385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,085 26,105 26,465
EUR 29,362 29,480 30,671
GBP 34,296 34,434 35,460
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,944 32,072 32,997
JPY 157.73 158.36 166.14
AUD 17,781 17,852 18,444
SGD 19,946 20,026 20,611
THB 769 772 808
CAD 18,166 18,239 18,806
NZD 14,676 15,212
KRW 16.22 17.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26091 26091 26465
AUD 17803 17903 18825
CAD 18169 18269 19280
CHF 32253 32283 33865
CNY 3812 3837 3972.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29554 29584 31309
GBP 34570 34620 36377
HKD 0 3355 0
JPY 159.64 160.14 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14751 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19942 20072 20794
THB 0 734.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,122 26,172 26,465
USD20 26,122 26,172 26,465
USD1 26,122 26,172 26,465
AUD 17,823 17,923 19,030
EUR 29,641 29,641 31,050
CAD 18,101 18,201 19,507
SGD 19,998 20,148 20,702
JPY 159.08 160.58 165.1
GBP 34,353 34,703 35,550
XAU 14,538,000 0 14,842,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/07/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80