Việt Nam đang đứng trước cả cơ hội lẫn thách thức khi các ngân hàng trung ương giảm lãi suất

(TBTCO) - Chia sẻ với phóng viên TBTCVN, TS. Chu Thanh Tuấn - Phó Chủ nhiệm nhóm ngành cử nhân Kinh doanh, Đại học RMIT cho rằng, Việt Nam đang đứng trước cả cơ hội lẫn thách thức khi các ngân hàng trung ương lớn cắt giảm lãi suất.
aa

Bằng cách đa dạng hóa thị trường thương mại, tăng cường khả năng phục hồi kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, quản lý rủi ro tiền tệ và thúc đẩy du lịch, Việt Nam có thể điều hướng hiệu quả tác động của những thay đổi chính sách tiền tệ toàn cầu và duy trì tăng trưởng kinh tế.

PV: Gần đây, một số ngân hàng trung ương lớn trên thế giới như Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng Trung ương Canada (BoC) đã cắt giảm lãi suất. Nhiều ngân hàng trung ương khác thực hiện tạm dừng tăng lãi suất. Ông có bình luận gì xung quanh vấn đề này?

TS. Chu Thanh Tuấn: Ngày 6/6/2024, ECB đã giảm lãi suất tiền gửi từ 4,0% xuống 3,75%, lần cắt giảm đầu tiên kể từ năm 2019. Quyết định này được cho là bị ảnh hưởng bởi sự sụt giảm lạm phát, đã giảm từ hơn 10% vào cuối năm 2022 xuống gần mục tiêu 2% của ECB.

Tuy nhiên, ECB vẫn thận trọng, báo hiệu việc giảm lãi suất tiếp theo sẽ phụ thuộc vào dữ liệu kinh tế sắp tới. Họ đã nâng dự báo lạm phát, cho thấy lạm phát có thể vẫn cao hơn mục tiêu trong năm tới. Lập trường thận trọng này ngụ ý rằng, mặc dù việc cắt giảm lãi suất mang lại một số cứu trợ kinh tế ngay lập tức, nhưng ECB sẵn sàng thắt chặt chính sách một lần nữa nếu lạm phát kéo dài được chứng minh​.

Tác động tới thị trường tài chính

Về tác động tới thị trường tài chính toàn cầu khi ECB và BoC cắt giảm lãi suất, theo TS. Chu Thanh Tuấn, lãi suất thấp hơn thường hỗ trợ giá cổ phiếu cao hơn bằng cách giảm chi phí vay của doanh nghiệp và tăng chi tiêu của người tiêu dùng.

Tuy nhiên, xu hướng này cũng gây ra sự biến động khi thị trường phản ứng với những thay đổi về chính sách tiền tệ và dữ liệu kinh tế. Đặc biệt, thị trường trái phiếu có thể chứng kiến ​​lợi suất dao động khi các nhà đầu tư điều chỉnh kỳ vọng của họ dựa trên hành động của ngân hàng trung ương​.

Trước đó, ngày 5/6/2024, BoC đã cắt giảm lãi suất chuẩn 25 điểm cơ bản xuống 4,75%, đánh dấu kết thúc của một loạt đợt tăng lãi suất nhằm chống lạm phát. Động thái này phản ánh tiến bộ về kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Việc cắt giảm lãi suất gần đây của ECB và BoC là những động thái quan trọng báo hiệu xu hướng nới lỏng tiền tệ rộng hơn giữa các ngân hàng trung ương lớn.

Hành động đó cũng là một phần trong xu hướng của các ngân hàng trung ương nhằm phản ứng với các điều kiện kinh tế đặc biệt trong nước, tác động đến nền kinh tế toàn cầu bao gồm những thay đổi trong quỹ đạo tăng trưởng, cán cân thương mại, động lực thị trường tài chính và quản lý lạm phát. Khi các ngân hàng trung ương điều hướng các điều kiện phức tạp này, chính sách của họ sẽ tiếp tục định hình bối cảnh kinh tế toàn cầu.

PV: Theo quan sát của ông, việc cắt giảm lãi suất, cũng như tạm dừng tăng lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới sẽ có tác động tới Việt Nam như thế nào?

TS. Chu Thanh Tuấn: Việt Nam là nền kinh tế định hướng xuất khẩu, rất dễ bị ảnh hưởng bởi biến động kinh tế toàn cầu. Việc cắt giảm lãi suất gần đây của các ngân hàng trung ương lớn như ECB và BoC có thể dẫn đến biến động tiền tệ và thay đổi động lực thương mại toàn cầu, ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu của Việt Nam. Việt Nam đang đứng trước cả cơ hội lẫn thách thức.

Việt Nam đang đứng trước cả cơ hội lẫn thách thức khi các ngân hàng trung ương giảm lãi suất
Việc cắt giảm lãi suất gần đây của các ngân hàng trung ương lớn có thể ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu của Việt Nam. Ảnh minh họa

Việc cắt giảm lãi suất của ECB và BoC có thể khiến đồng Euro và đô la Canada mất giá. Điều này làm cho hàng hóa châu Âu và Canada rẻ hơn trên thị trường toàn cầu, có khả năng ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam do chúng trở nên đắt hơn tương đối.

Tuy nhiên, chi phí vay giảm ở châu Âu và Canada có thể thúc đẩy hoạt động kinh tế ở các khu vực này, có khả năng làm tăng nhu cầu xuất khẩu của Việt Nam. Điều này có thể có lợi cho các ngành như dệt may, điện tử và nông nghiệp - vốn là những ngành đóng góp xuất khẩu đáng kể cho Việt Nam.

Tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Việt Nam được thúc đẩy đáng kể bởi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Những thay đổi về lãi suất toàn cầu có thể ảnh hưởng đến dòng vốn FDI, khiến các nhà đầu tư có khả năng tìm kiếm lợi nhuận cao hơn ở các thị trường khác.

Lãi suất thấp hơn ở châu Âu và Canada có thể khuyến khích các nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận cao hơn ở các thị trường mới nổi như Việt Nam. Điều này có thể dẫn đến tăng FDI, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất và công nghệ.

Việt Nam có thể trở nên hấp dẫn hơn đối với các công ty châu Âu và Canada muốn chuyển địa điểm, hoặc mở rộng do chi phí vận hành thấp hơn và điều kiện đầu tư thuận lợi. Khi chi phí vay giảm, chi tiêu của người tiêu dùng ở châu Âu và Canada có thể tăng lên, dẫn đến chi tiêu tùy ý cho du lịch cao hơn. Điều này có thể mang lại lợi ích cho ngành du lịch Việt Nam, vốn đang phục hồi sau đại dịch.

Đồng Euro và Đô la Canada yếu hơn có thể dẫn đến nhập khẩu rẻ hơn từ các khu vực này, có khả năng giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, nó cũng có thể làm tăng sự cạnh tranh cho các nhà sản xuất địa phương.

PV: Như ông phân tích, Việt Nam đang đứng trước cả cơ hội lẫn thách thức khi các ngân hàng trung ương lớn cắt giảm lãi suất. Vậy ông có khuyến nghị gì để Việt Nam có thể giảm thiểu rủi ro và tận dụng được các cơ hội, thưa ông?

TS. Chu Thanh Tuấn: Tôi cho rằng, để có thể giảm thiểu rủi ro và tận dụng được cơ hội từ việc cắt giảm lãi suất trên, Việt Nam cần:

Tăng cường chính sách thương mại thông qua việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Giảm phụ thuộc vào bất kỳ thị trường đơn lẻ nào bằng cách mở rộng quan hệ thương mại với các nước khác. Điều này có thể giúp giảm thiểu rủi ro liên quan đến biến động tiền tệ và suy thoái kinh tế ở các khu vực nhất định.

Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu thông qua việc tập trung đẩy mạnh chất lượng và giá trị gia tăng của hàng Việt Nam xuất khẩu để duy trì khả năng cạnh tranh bất chấp sự thay đổi của tiền tệ.

Các ngân hàng trung ương lớn cắt giảm lãi suất: Việt Nam đang đứng trước cả cơ hội và thách thức
TS. Chu Thanh Tuấn

Đồng thời, cần tăng cường khả năng phục hồi kinh tế thông qua thúc đẩy tiêu dùng nội địa. Xây dựng các chính sách khuyến khích tiêu dùng trong nước nhằm giảm thiểu khả năng dễ bị tổn thương của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.

Điều này bao gồm hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ và đầu tư vào các lĩnh vực hướng tới người tiêu dùng. Cùng với đó là chú trọng cải thiện cơ sở hạ tầng để hỗ trợ chuỗi cung ứng và logistics hiệu quả, đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn cho FDI và thương mại.

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua môi trường đầu tư ổn định. Duy trì môi trường pháp lý ổn định và có thể dự đoán được để thu hút và giữ chân các nhà đầu tư nước ngoài. Điều này bao gồm các quy trình pháp lý minh bạch, bảo vệ quyền sở hữu và khuyến khích các ngành công nghệ cao. Đưa ra các ưu đãi đầu tư vào các ngành công nghệ cao và giá trị cao nhằm đa dạng hóa cơ sở kinh tế và giảm sự phụ thuộc vào các lĩnh vực sản xuất truyền thống.

Với việc cắt giảm lãi suất của ECB và BoC, Chính phủ cần thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt để đối phó với các cú sốc bên ngoài và duy trì ổn định kinh tế. Điều này liên quan đến việc giám sát tích cực thị trường tài chính toàn cầu và các biện pháp can thiệp thích hợp khi cần thiết. Đồng thời, xây dựng dự trữ ngoại hối mạnh mẽ để chống lại biến động tiền tệ và áp lực kinh tế bên ngoài.

PV: Xin cảm ơn ông!

Xu hướng hiện nay của các ngân hàng trung ương khác trên thế giới

Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed): Fed đã tạm dừng tăng lãi suất bất chấp kế hoạch tăng thêm trước đó. Điều này phản ánh cách tiếp cận thận trọng trước các tín hiệu kinh tế trái chiều, đặc biệt là áp lực lạm phát dai dẳng. Các quyết định về lãi suất trong tương lai có thể sẽ phụ thuộc vào dữ liệu việc làm và lạm phát sắp tới.

Ngân hàng Trung ương Anh (BoE): BoE cũng đã duy trì lãi suất cao, hiện ở mức 5,25%, do lo ngại lạm phát đang diễn ra, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ. Tương tự như Fed, BoE đang áp dụng cách tiếp cận chờ xem về việc cắt giảm lãi suất trong tương lai.

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ): Vào tháng 3/2024, BoJ đã có sự thay đổi đáng kể khi lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ, họ đã từ bỏ chính sách lãi suất âm. BoJ thông báo nâng lãi suất ngắn hạn lên mức khoảng 0-0,1%, từ mức âm 0,1%.

Động thái này đánh dấu kết thúc một kỷ nguyên nới lỏng tiền tệ chưa từng có của Nhật Bản. BoJ đã thảo luận về khả năng tiếp tục tăng lãi suất nếu đồng Yên yếu tiếp tục đẩy lạm phát tăng cao, theo biên bản cuôc họp gần đây mới được ngân hàng công bố.

Thảo Miên

Đọc thêm

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,970 ▼100K 14,570 ▼100K
Trang sức 99.99 13,980 ▼100K 14,580 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 ▼10K 14,662 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 ▼10K 14,663 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼10K 1,461 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼10K 1,462 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 ▼10K 1,451 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 ▼990K 143,663 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 ▼750K 108,986 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 ▼680K 98,828 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 ▼61K 8,867 ▼61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 ▼583K 84,752 ▼583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 ▲45735K 60,663 ▲54555K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Cập nhật: 21/09/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17999 18274 18856
CAD 18022 18297 18914
CHF 30950 31327 31974
CNY 0 3842 3938
EUR 29226 29446 30526
GBP 34014 34403 35332
HKD 0 3185 3387
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14582 15173
SGD 19852 20134 20703
THB 697 760 813
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,254 29,277 30,663
JPY 160.86 161.15 170.9
GBP 34,157 34,249 35,434
AUD 18,187 18,253 18,945
CAD 18,206 18,264 18,936
CHF 31,179 31,276 32,201
SGD 19,961 20,023 20,810
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,248 3,258 3,395
KRW 17.37 18.11 19.71
THB 744.24 753.43 806.71
NZD 14,537 14,672 15,108
SEK - 2,598 2,689
DKK - 3,923 4,062
NOK - 2,708 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,963.02 - 6,730.53
TWD 739.18 - 894.99
SAR - 6,805.73 7,168.69
KWD - 82,348 87,625
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,309 29,427 30,627
GBP 34,205 34,342 35,368
HKD 3,248 3,261 3,378
CHF 31,091 31,216 32,159
JPY 161.83 162.48 170.46
AUD 18,193 18,266 18,860
SGD 20,036 20,116 20,706
THB 761 764 801
CAD 18,249 18,322 18,912
NZD 14,631 15,173
KRW 17.95 19.92
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25832 25832 26192
AUD 18184 18284 19214
CAD 18201 18301 19315
CHF 31202 31232 32806
CNY 3824.9 3849.9 3985
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29404 29434 31159
GBP 34304 34354 36112
HKD 0 3305 0
JPY 161.88 162.38 172.92
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14692 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20006 20136 20868
THB 0 726.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,700 25,820 26,210
USD20 25,670 25,820 26,210
USD1 25,650 25,820 26,210
AUD 18,213 18,313 19,453
EUR 29,197 29,297 30,993
CAD 18,170 18,270 19,598
SGD 20,076 20,226 20,809
JPY 162.93 164.43 170.2
GBP 34,203 34,353 35,710
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,730 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/09/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30