VietinBank củng cố chất lượng tài sản, tăng trưởng an toàn và bền vững

(TBTCO) - Kết thúc quý III/2023, tổng tài sản VietinBank đạt 1,89 triệu tỷ đồng, tăng 4,4% so với cuối năm 2022, lợi nhuận trước thuế đạt 17,4 nghìn tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2022…
aa

Chiều ngày 15/11/2023, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) đã tổ chức trực tuyến Hội nghị cập nhật kết quả kinh doanh (KQKD) quý III, 9 tháng đầu năm 2023 và định hướng hoạt động những tháng cuối năm 2023.

Lấy khách hàng làm trung tâm, lấy hiệu quả làm thước đo hoạt động

Năm 2023, VietinBank đẩy mạnh thực hiện chiến lược kinh doanh cốt lõi thông qua đầu tư nền tảng công nghệ, đa dạng hóa cơ cấu doanh thu, phát triển khách hàng theo hướng bền vững, kiểm soát tốt rủi ro. Trong 9 tháng đầu năm, VietinBank tiếp tục ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực, cho thấy nền tảng phát triển vững chắc, cùng sự chủ động, linh hoạt của ngân hàng khi ứng phó thách thức.

Thông tin từ VietinBank cho biết, kết thúc quý III/2023, tổng tài sản VietinBank đạt 1,89 triệu tỷ đồng, tăng 4,4% so với cuối năm 2022. Dư nợ tín dụng và tiền gửi khách hàng lần lượt đạt 1,39 triệu tỷ đồng và 1,31 triệu tỷ đồng, tăng 8,7% và 4,9% so với cuối năm 2022. Huy động vốn tăng trưởng ổn định, đảm bảo an toàn thanh khoản, kết hợp với cho vay tăng trưởng mạnh – cao hơn tốc độ toàn ngành (6,92%) kết hợp với kiểm soát tốt rủi ro giúp củng cố bảng tổng kết tài sản lành mạnh.

Đáng chú ý, trong bối cảnh nhiều ngân hàng đang ghi nhận tỷ lệ CASA giảm so với đầu năm, VietinBank là điểm sáng khi tiếp tục duy trì và cải thiện tỷ lệ CASA trong năm 2023. Tỷ lệ CASA của VietinBank tăng từ mức 18,7% cuối quý II/2023 lên mức 20% cuối quý III/2023 - tương đương mức cuối năm 2022.

Tổng thu nhập hoạt động 9 tháng đạt 52,2 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2022. Thu nhập lãi thuần (không gồm thu phí bảo lãnh) lũy kế đạt 37,5 nghìn tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2022. Đáng chú ý, thu thuần từ hoạt động dịch vụ (gồm thu phí bảo lãnh) và thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối đều ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ, lần lượt đạt 6,6 nghìn tỷ đồng và 3,5 nghìn tỷ đồng (tăng 32,6% và 42,8% so với cùng kỳ năm 2022). Xét về cơ cấu doanh thu, tỷ trọng thu ngoài lãi tiếp tục tăng tốt so với cuối năm và cùng kỳ năm 2022, đạt mức 28,1%. VietinBank tiếp tục tối ưu hóa hiệu quả hoat động, kiểm soát tốt chi phí, do vậy, tỷ lệ CIR trong 9 tháng đầu năm 2023 đạt 27,1%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2022 (27,3%).

Trong bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước biến động, những tháng cuối năm 2023 còn nhiều tiềm ẩn khó lường, VietinBank tiếp tục chủ động dành nguồn lực tài chính trích lập dự phòng rủi ro theo đúng quy định nhằm gia tăng bộ đệm dự phòng. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt 172,4%, cải thiện so với quý II/2023 (169%). VietinBank tiếp tục duy trì chất lượng tài sản ở mức tốt so với trung bình ngành, tỷ lệ nợ xấu được cuối quý III/2023 là 1,37%.

Theo đó, lợi nhuận trước thuế của VietinBank đạt 17,4 nghìn tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2022. Các chỉ tiêu hiệu quả tiếp tục ghi nhận mức tương đương hoặc cải thiện so với cuối năm 2022: NIM đạt 2,88%, ROA và ROE lần lượt đạt 1,3% và 16,3%.

VietinBank củng cố chất lượng tài sản, tăng trưởng an toàn và bền vững
Bà Phạm Thị Thanh Hoài - thành viên HĐQT VietinBank, chủ trì Hội nghị cập nhật kết quả kinh doanh quý III, 9 tháng đầu năm 2023.

Tăng tốc triển khai chuyển đổi số

Trong thời gian qua, các nền tảng ngân hàng số dành cho khách hàng cá nhân (KHCN) và khách hàng doanh nghiệp (KHDN) của VietinBank đã liên tục ghi nhận kết quả tích cực: ứng dụng VietinBank Ipay Mobile dành cho KHCN tiếp tục thu hút gần 7,4 triệu khách hàng sử dụng, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2022; đạt 786 triệu giao dịch (tương đương 87 triệu giao dịch được thực hiện mỗi tháng), tăng 58,8% so với cùng kỳ năm 2022.

Tỷ trọng giao dịch qua kênh iPay đạt 90,5% tổng giao dịch KHCN, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2022. VietinBank iPay Mobile không chỉ là ứng dụng ngân hàng số mà còn là hệ sinh thái số, kết nối tới hơn 2.400 nhà cung cấp dịch vụ, cung cấp mọi nhu cầu đời sống hàng ngày của khách hàng.

Đối với KHDN, ứng dụng eFAST được xem như trợ lý tài chính số với hơn 130 tính năng đã thu hút hút gần 96 nghìn doanh nghiệp sử dụng thường xuyên; số lượng giao dịch trong 9 tháng đầu năm 2023 đạt ~23,9 triệu giao dịch, tương đương năm 2022. Tỷ trọng giao dịch qua kênh eFAST tăng lên 82% (từ mức 80% cùng kỳ năm 2022).

Năm 2023, VietinBank đặt mục tiêu tổng tài sản tăng từ 5 - 10%, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát dưới 1,8%, lợi nhuận riêng lẻ trước thuế đạt 22.500 tỷ đồng, các tỷ lệ an toàn hoạt động tuân thủ theo quy định của NHNN.

Năm 2023, VietinBank đã lựa chọn đơn vị tư vấn hàng đầu trên thế giới để đồng hành cùng VietinBank trong xây dựng và triển khai chiến lược chuyển đổi số giai đoạn 2023-2025, tầm nhìn 2030 với cả 4 trụ cột là số hóa, dữ liệu, công nghệ và tổ chức.

Dự án chuyển đổi số là dự án trọng điểm của VietinBank, được kỳ vọng sẽ là bước đột phá nhằm hiện thực hóa khát vọng vươn mình trở thành ngân hàng số hàng đầu Việt Nam thông qua khai phá nội lực, cùng sức sáng tạo phi giới hạn của công nghệ, qua đó đem lại trải nghiệm hoàn hảo cho khách hàng và cán bộ nhân viên VietinBank.

VietinBank củng cố chất lượng tài sản, tăng trưởng an toàn và bền vững
Đông đảo các nhà đầu tư, đại diện các tổ chức, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ tham dự hội nghị.

Nỗ lực hoàn thành các mục tiêu kế hoạch kinh doanh năm 2023

Năm 2023, VietinBank đặt mục tiêu tổng tài sản tăng từ 5 - 10%, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát dưới 1,8%, lợi nhuận riêng lẻ trước thuế đạt 22.500 tỷ đồng, các tỷ lệ an toàn hoạt động tuân thủ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Các kết quả cuối quý III/2023 tăng trưởng ở hầu hết các chỉ tiêu quy mô và hiệu quả kinh doanh, cùng với động lực chuyển đổi số mạnh mẽ và nền tảng kiểm soát, quản trị rủi ro tốt chính là động lực vững chắc để VietinBank hoàn thành tốt kế hoạch kinh doanh năm 2023 đã được đại hội cổ đông thông qua.

Trong thời gian tới, VietinBank sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ và mạnh mẽ các giải pháp kinh doanh với quan điểm định hướng chiến lược xuyên suốt là luôn đảm bảo hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả, bền vững.

Với những nền tảng được xây dựng, phát triển vững chắc trong 35 năm qua (1988 – 2023), VietinBank sẽ không ngừng đổi mới từ sản phẩm, quy trình vận hành, nhân sự, công nghệ và quản trị rủi ro, mô hình kinh doanh để mang lại giá trị vượt trội cho khách hàng, cổ đông và cộng đồng – hướng tới 1 ngân hàng đa năng hiện đại hàng đầu Việt Nam và nâng tầm cao mới./.

Thanh Lê

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,350 16,550
Nguyên Liệu 99.9 16,300 16,500
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,950 ▼100K 17,250 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 16,950 ▼100K 17,250 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 16,950 ▼100K 17,250 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,950 ▼100K 17,250 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,950 ▼100K 17,250 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,950 ▼100K 17,250 ▼100K
NL 99.90 16,270
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300
Trang sức 99.9 16,440 ▼100K 17,140 ▼100K
Trang sức 99.99 16,450 ▼100K 17,150 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17791 18065 18647
CAD 18553 18830 19450
CHF 32635 33019 33665
CNY 0 3470 3830
EUR 29849 30122 31156
GBP 34430 34821 35757
HKD 0 3239 3441
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15007 15597
SGD 20030 20313 20849
THB 723 786 841
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,003 30,027 31,269
JPY 161.07 161.36 170.07
GBP 34,604 34,698 35,678
AUD 18,016 18,081 18,653
CAD 18,748 18,808 19,385
CHF 32,919 33,021 33,792
SGD 20,142 20,205 20,878
CNY - 3,758 3,858
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.18 16.87 18.24
THB 766.78 776.25 826.5
NZD 14,967 15,106 15,460
SEK - 2,772 2,854
DKK - 4,016 4,132
NOK - 2,664 2,742
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,211.87 - 6,971.6
TWD 743.5 - 895.18
SAR - 6,895.13 7,218.34
KWD - 83,583 88,386
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17928 18028 18958
CAD 18712 18812 19824
CHF 32859 32889 34476
CNY 3757.4 3782.4 3917.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30008 30038 31764
GBP 34682 34732 36501
HKD 0 3355 0
JPY 161.68 162.18 172.69
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15077 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20171 20301 21033
THB 0 748.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17000000 17000000 17700000
SBJ 15000000 15000000 17700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,175 26,225 26,359
USD20 26,175 26,225 26,359
USD1 26,175 26,225 26,359
AUD 18,065 18,165 19,280
EUR 30,242 30,242 31,656
CAD 18,717 18,817 20,130
SGD 20,292 20,442 21,453
JPY 162.64 164.14 168.74
GBP 34,660 35,010 35,884
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,670 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80