Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
aa

Ngân hàng lớn “tiếp nhiệt”, lãi suất chạm mốc 9%/năm

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết tại gần 50 ngân hàng trong và ngoài nước ngày 24/3 cho thấy, "cuộc đua" lãi suất kỳ hạn 6 tháng vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, với 10 ngân hàng đồng loạt điều chỉnh đi lên.

Trong đó, Sacombank dẫn đầu đà tăng khi lên 6,6%/năm, tăng 1,1 điểm phần trăm so với đầu tháng 3/2026; VietBank lên 6%/năm và TPBank lên 5,7%/năm, cùng tăng 0,8 điểm phần trăm; VCBNeo chạm 6,8%/năm, tăng 0,6 điểm phần trăm; VPBank lên 6,4%/năm, tăng 0,4 điểm phần trăm... Đáng chú ý, nếu so với đầu năm, xu hướng tăng còn rõ nét hơn khi có trên 20 ngân hàng đã điều chỉnh lãi suất ở kỳ hạn này, với biên độ mạnh hơn đáng kể.

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng
Đồ họa: Phương Anh

Ở kỳ hạn 12 tháng, “cuộc đua” lãi suất còn nóng hơn khi có tới 15 ngân hàng điều chỉnh tăng kể từ đầu tháng 3/2026, trong đó, xuất hiện nhiều tên tuổi lớn. Nổi bật, MB và CIMB cùng tăng 1 điểm phần trăm, đưa lãi suất lên quanh 6,5 - 6,6%/năm. Sacombank và VCBNeo tăng 0,8 điểm phần trăm, lần lượt lên 6,6%/năm và 7,2%/năm. Bên cạnh đó, nhóm tăng 0,7 điểm phần trăm ghi nhận: "ông lớn" quốc doanh Vietcombank và VietinBank cùng lên 5,9%/năm, TPBank lên 6,1%/năm và VietBank lên 6,2%/năm.

Còn nhìn vào “đỉnh” lãi suất, cuộc đua huy động đang bước vào giai đoạn gay gắt hơn, khi nhiều nhà băng sẵn sàng trả lãi cao để hút vốn. Đơn cử, ngân hàng số Cake by VPBank đưa kỳ hạn 6 tháng lên 7,7%/năm; kỳ hạn 12 tháng và 24 tháng lên 7,9%/năm. Đồng thời, triển khai chương trình cộng "ngầm" 1,1%/năm cho khách hàng mới gửi tiền từ 6 tháng trở lên, qua đó, lãi suất thực nhận có thể đạt 9%/năm.

Một số ngân hàng cũng niêm yết mức lãi suất 9%/năm, nhưng đi kèm điều kiện đặc thù về quy mô tiền gửi như: MSB, PVcomBank.

Lãi suất huy động chịu sức ép đa chiều

"Áp lực tăng lãi suất huy động không chỉ đến từ chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn, mà còn từ nhiều yếu tố khác. Thứ nhất, lãi suất tăng do áp lực thanh khoản. Thứ hai, chi phí vốn và chi phí huy động đều gia tăng. Thứ ba, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) có xu hướng suy giảm. Thứ tư, chất lượng tài sản có dấu hiệu xấu đi khi nợ xấu, đặc biệt từ nhóm 3 - 5 gia tăng".

TS. Châu Đình Linh, Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, việc lãi suất huy động gia tăng không chỉ phản ánh nhu cầu vốn đi lên, mà còn phát đi những tín hiệu đáng chú ý về trạng thái thanh khoản hệ thống.

Trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động, các ngân hàng buộc phải điều chỉnh lãi suất để giữ chân dòng tiền. Huy động tiền gửi không phải là kênh duy nhất, các nhà băng còn tìm kiếm thêm nguồn vốn từ nhiều kênh, từ phát hành trái phiếu, tăng vốn chủ sở hữu hoặc tận dụng thị trường liên ngân hàng, giúp giải quyết áp lực thanh khoản từng thời điểm.

Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng chủ động điều tiết thông qua thị trường mở (OMO), đồng thời triển khai các nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ để kiểm soát việc bơm - hút VND một cách nhịp nhàng, qua đó, từng bước kéo mặt bằng lãi suất đi xuống. "Việc hạ nhiệt lãi suất không thể diễn ra ngay lập tức, mà theo từng bậc thang" - ông Linh ví von.

Điều hành lãi suất tại ngân hàng lớn, kiểm soát chi phí vốn hợp lý

Nhìn lại diễn biến lãi suất thời gian qua tại hội nghị cập nhật kết quả kinh doanh gần đây, bà Phạm Thị Thanh Hoài - Thành viên Hội đồng quản trị VietinBank cho biết, trong nửa đầu năm 2025, lãi suất duy trì ổn định, song đây cũng chính là vùng “đáy” của lãi suất trong nhiều năm trở lại đây. Đến nửa cuối năm 2025, lãi suất có những biến động gây áp lực cho cả thị trường 1 (thị trường dân cư) và thị trường 2 (liên ngân hàng).

"Về xu hướng tăng của lãi suất, tôi nghĩ đều nằm trong kịch bản điều hành của các ngân hàng. Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu của chu kỳ tăng trưởng, thường thanh khoản có thể bị tắc nghẽn cục bộ tại một số bộ phận, dẫn đến có những thời điểm lãi suất liên ngân hàng hoặc lãi suất huy động của một số ngân hàng tăng hơn" - bà Hoài nhận định.

Cũng theo ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng quản trị MB cho biết, cuối năm 2025, lãi suất huy động có nhích lên, nhưng lãi suất cho vay cũng chưa thay đổi. Việc giảm lãi suất cho vay hoặc duy trì mức lãi suất hợp lý sẽ được điều chỉnh theo từng ngành.

Liên quan đến định hướng điều hành lãi suất tại một số ngân hàng, bà Nguyễn Thị Lệ Mai - Phó trưởng Phòng Quản lý cân đối vốn Khối Tài chính VietinBank cho biết, với định hướng xuyên suốt của Chính phủ trong việc ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng, VietinBank cố gắng duy trì mặt bằng lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay phù hợp, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân mở rộng sản xuất kinh doanh.

"Trường hợp cần thiết, VietinBank có thể điều chỉnh lãi suất huy động ở mức phù hợp, có chọn lọc theo kỳ hạn và thời điểm, đảm bảo cân đối thanh khoản, đáp ứng nhu cầu tín dụng và vẫn đạt hiệu quả kinh doanh" - đại diện VietinBank nhấn mạnh.

Để kiểm soát chi phí vốn, VietinBank tập trung tăng CASA và các nguồn vốn chi phí thấp, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ; đồng thời, tối ưu cơ cấu kỳ hạn và quản trị thanh khoản chủ động, nhằm hạn chế phụ thuộc vào các nguồn vốn chi phí cao.

Về phía MB, bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Giám đốc Tài chính MB cho biết, mức lãi suất cho vay bình quân sẽ duy trì như bình quân quý IV/2025, tuy nhiên, năm 2026 sẽ có sự phân hóa khá mạnh giữa các ngành, lĩnh vực. Các hoạt động có rủi ro cao, hoặc thuộc lĩnh vực hạn chế theo định hướng của Chính phủ sẽ có mức lãi suất cao hơn; trong khi các lĩnh vực tiêu dùng, sản xuất kinh doanh theo định hướng sẽ có lãi suất thấp hơn.

Về huy động vốn, để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tín dụng cao, ngân hàng cần cân đối nguồn vốn phù hợp với tốc độ tăng trưởng. Chi phí vốn (COF) dự kiến tăng 0,15 - 0,2% so với năm 2025. "Với mức lãi suất cho vay duy trì như quý IV/2025, NIM có thể giữ ở mức tương đương năm 2025" - đại diện MB nêu rõ.

Lãi suất đã tăng 100 - 150 điểm cơ bản, áp lực huy động vẫn kéo dài

Trong báo cáo triển vọng vĩ mô tháng 3/2026 mới phát hành, theo thống kê của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), có 3/26 ngân hàng được theo dõi tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi ở các kỳ hạn trên 6 tháng, với mức tăng từ 0,1 - 0,9 điểm phần trăm.

Dù mặt bằng lãi suất huy động của phần lớn ngân hàng trong năm 2025 đã tăng khoảng 100 - 150 điểm cơ bản, nhóm phân tích MBS cho rằng, áp lực huy động vốn vẫn sẽ tiếp diễn trong năm nay, đặc biệt khi nhu cầu vốn trung dài hạn cho các dự án đầu tư công và xây dựng hạ tầng gia tăng, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Cũng theo Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, đến cuối tháng 2/2026, tín dụng tăng mạnh ngay từ đầu năm, tăng 1,4% so với cuối năm 2025 và 20,2% so với cùng kỳ. Tín dụng tăng nhanh đã khiến lãi suất tiền gửi tăng khoảng 0,2 - 0,3 điểm phần trăm ở nhóm ngân hàng tư nhân.

"Lãi suất cho vay bình quân ở các ngân hàng thương mại trong nước cũng tăng 0,3 điểm phần trăm lên 7 - 9,3%. Đáng chú ý, lãi cho vay đối với lĩnh vực bất động sản tăng mạnh lên 12 - 14% với thời gian cố định lãi suất 12 - 14 tháng, một số trường hợp lên đến 15 - 16%, cho thấy xu hướng hạn chế dòng vốn vào lĩnh vực đầu cơ khá mạnh mẽ" - nhóm phân tích VNDIRECT nhận định.

Các động thái hỗ trợ thanh khoản của cơ quan điều hành có thể giúp hạ nhiệt lãi suất trong ngắn hạn, tuy nhiên, đây vẫn là các biện pháp mang tính tạm thời, đặc biệt trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu tiềm ẩn nhiều biến số khó lường liên quan đến rủi ro địa chính trị.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

(TBTCO) - Bảo hiểm BIC báo lãi trước thuế quý II/2026 đạt 169,6 tỷ đồng, tăng mạnh 42,3% cùng kỳ, song lũy kế 6 tháng mới đạt 288,8 tỷ đồng, chịu tác động khi không còn khoản chốt lời chứng khoán lớn như cùng kỳ. Dù vậy, phí bảo hiểm gốc của BIC duy trì đà tăng 5,7% lên 2.832,8 tỷ đồng; danh mục đầu tư được mở rộng lên gần 7.500 tỷ đồng.
Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

(TBTCO) - Hội nghị Cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026 vừa diễn ra tại Đà Nẵng với chủ đề "Tái định hình tương lai bảo hiểm với dữ liệu, AI và chuyển đổi bền vững" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp tổ chức. Đây là diễn đàn thường niên quy tụ các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp cùng đông đảo chuyên gia uy tín trong và ngoài nước nhằm trao đổi về những xu hướng định hình động lực tăng trưởng mới của thị trường.
Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI đang trở thành động lực tăng trưởng mới và năng lực cốt lõi của ngành bảo hiểm. Tại Hội nghị cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026, các đại biểu nhấn mạnh, việc tạo môi trường thuận lợi để nghiên cứu, ứng dụng AI và các công nghệ mới trong hoạt động bảo hiểm được đặt trong yêu cầu phải đi đôi với quản trị rủi ro và niềm tin làm nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng nhẹ và tiếp tục giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm trong phiên cuối tuần.
Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,100 140,900
Hà Nội - PNJ 136,100 140,900
Đà Nẵng - PNJ 136,100 140,900
Miền Tây - PNJ 136,100 140,900
Tây Nguyên - PNJ 136,100 140,900
Đông Nam Bộ - PNJ 136,100 140,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,150
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800
Trang sức 99.9 13,390 13,990
Trang sức 99.99 13,400 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 141
Cập nhật: 04/08/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18713
CAD 18179 18455 19072
CHF 31823 32204 32861
CNY 0 3850 3943
EUR 29644 29866 30949
GBP 34563 34955 35893
HKD 0 3220 3422
JPY 160 165 171
KRW 0 17 19
NZD 0 15094 15685
SGD 19947 20229 20808
THB 703 766 820
USD (1,2) 26011 0 0
USD (5,10,20) 26052 0 0
USD (50,100) 26081 26090 26460
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,100 26,100 26,480
USD(1-2-5) 25,056 - -
USD(10-20) 25,056 - -
EUR 29,707 29,731 31,134
JPY 163.16 163.45 173.29
GBP 34,747 34,841 36,046
AUD 18,133 18,199 18,884
CAD 18,375 18,434 19,112
CHF 32,090 32,190 33,129
SGD 20,074 20,136 20,933
CNY - 3,818 3,964
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.93 17.66 19.21
THB 752.08 761.37 814.6
NZD 15,112 15,252 15,707
SEK - 2,712 2,807
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,999.73 - 6,770.89
TWD 733.63 - 888.66
SAR - 6,881.18 7,247.23
KWD - 83,133 88,446
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,771 29,891 31,088
GBP 34,807 34,947 35,981
HKD 3,284 3,297 3,415
CHF 32,000 32,129 33,061
JPY 164.31 164.97 172.93
AUD 18,151 18,224 18,823
SGD 20,184 20,265 20,861
THB 769 772 808
CAD 18,415 18,489 19,073
NZD 15,248 15,795
KRW 17.57 19.53
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26075 26075 26475
AUD 18060 18160 19085
CAD 18366 18466 19480
CHF 32113 32143 33721
CNY 3830.5 3855.5 3990.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29836 29866 31589
GBP 34857 34907 36660
HKD 0 3355 0
JPY 163.92 164.42 174.96
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15220 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20108 20238 20965
THB 0 732.6 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,121 26,171 26,480
USD20 26,071 26,171 26,575
USD1 24,091 26,171 26,625
AUD 18,185 18,285 19,395
EUR 29,666 29,766 31,428
CAD 18,334 18,434 19,740
SGD 20,224 20,374 20,928
JPY 164.96 166.46 172.02
GBP 34,819 34,969 36,036
XAU 13,698,000 0 14,102,000
CNY 0 3,745 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/08/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80