Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
aa

Ngân hàng lớn “tiếp nhiệt”, lãi suất chạm mốc 9%/năm

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết tại gần 50 ngân hàng trong và ngoài nước ngày 24/3 cho thấy, "cuộc đua" lãi suất kỳ hạn 6 tháng vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, với 10 ngân hàng đồng loạt điều chỉnh đi lên.

Trong đó, Sacombank dẫn đầu đà tăng khi lên 6,6%/năm, tăng 1,1 điểm phần trăm so với đầu tháng 3/2026; VietBank lên 6%/năm và TPBank lên 5,7%/năm, cùng tăng 0,8 điểm phần trăm; VCBNeo chạm 6,8%/năm, tăng 0,6 điểm phần trăm; VPBank lên 6,4%/năm, tăng 0,4 điểm phần trăm... Đáng chú ý, nếu so với đầu năm, xu hướng tăng còn rõ nét hơn khi có trên 20 ngân hàng đã điều chỉnh lãi suất ở kỳ hạn này, với biên độ mạnh hơn đáng kể.

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng
Đồ họa: Phương Anh

Ở kỳ hạn 12 tháng, “cuộc đua” lãi suất còn nóng hơn khi có tới 15 ngân hàng điều chỉnh tăng kể từ đầu tháng 3/2026, trong đó, xuất hiện nhiều tên tuổi lớn. Nổi bật, MB và CIMB cùng tăng 1 điểm phần trăm, đưa lãi suất lên quanh 6,5 - 6,6%/năm. Sacombank và VCBNeo tăng 0,8 điểm phần trăm, lần lượt lên 6,6%/năm và 7,2%/năm. Bên cạnh đó, nhóm tăng 0,7 điểm phần trăm ghi nhận: "ông lớn" quốc doanh Vietcombank và VietinBank cùng lên 5,9%/năm, TPBank lên 6,1%/năm và VietBank lên 6,2%/năm.

Còn nhìn vào “đỉnh” lãi suất, cuộc đua huy động đang bước vào giai đoạn gay gắt hơn, khi nhiều nhà băng sẵn sàng trả lãi cao để hút vốn. Đơn cử, ngân hàng số Cake by VPBank đưa kỳ hạn 6 tháng lên 7,7%/năm; kỳ hạn 12 tháng và 24 tháng lên 7,9%/năm. Đồng thời, triển khai chương trình cộng "ngầm" 1,1%/năm cho khách hàng mới gửi tiền từ 6 tháng trở lên, qua đó, lãi suất thực nhận có thể đạt 9%/năm.

Một số ngân hàng cũng niêm yết mức lãi suất 9%/năm, nhưng đi kèm điều kiện đặc thù về quy mô tiền gửi như: MSB, PVcomBank.

Lãi suất huy động chịu sức ép đa chiều

"Áp lực tăng lãi suất huy động không chỉ đến từ chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn, mà còn từ nhiều yếu tố khác. Thứ nhất, lãi suất tăng do áp lực thanh khoản. Thứ hai, chi phí vốn và chi phí huy động đều gia tăng. Thứ ba, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) có xu hướng suy giảm. Thứ tư, chất lượng tài sản có dấu hiệu xấu đi khi nợ xấu, đặc biệt từ nhóm 3 - 5 gia tăng".

TS. Châu Đình Linh, Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, việc lãi suất huy động gia tăng không chỉ phản ánh nhu cầu vốn đi lên, mà còn phát đi những tín hiệu đáng chú ý về trạng thái thanh khoản hệ thống.

Trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động, các ngân hàng buộc phải điều chỉnh lãi suất để giữ chân dòng tiền. Huy động tiền gửi không phải là kênh duy nhất, các nhà băng còn tìm kiếm thêm nguồn vốn từ nhiều kênh, từ phát hành trái phiếu, tăng vốn chủ sở hữu hoặc tận dụng thị trường liên ngân hàng, giúp giải quyết áp lực thanh khoản từng thời điểm.

Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng chủ động điều tiết thông qua thị trường mở (OMO), đồng thời triển khai các nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ để kiểm soát việc bơm - hút VND một cách nhịp nhàng, qua đó, từng bước kéo mặt bằng lãi suất đi xuống. "Việc hạ nhiệt lãi suất không thể diễn ra ngay lập tức, mà theo từng bậc thang" - ông Linh ví von.

Điều hành lãi suất tại ngân hàng lớn, kiểm soát chi phí vốn hợp lý

Nhìn lại diễn biến lãi suất thời gian qua tại hội nghị cập nhật kết quả kinh doanh gần đây, bà Phạm Thị Thanh Hoài - Thành viên Hội đồng quản trị VietinBank cho biết, trong nửa đầu năm 2025, lãi suất duy trì ổn định, song đây cũng chính là vùng “đáy” của lãi suất trong nhiều năm trở lại đây. Đến nửa cuối năm 2025, lãi suất có những biến động gây áp lực cho cả thị trường 1 (thị trường dân cư) và thị trường 2 (liên ngân hàng).

"Về xu hướng tăng của lãi suất, tôi nghĩ đều nằm trong kịch bản điều hành của các ngân hàng. Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu của chu kỳ tăng trưởng, thường thanh khoản có thể bị tắc nghẽn cục bộ tại một số bộ phận, dẫn đến có những thời điểm lãi suất liên ngân hàng hoặc lãi suất huy động của một số ngân hàng tăng hơn" - bà Hoài nhận định.

Cũng theo ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng quản trị MB cho biết, cuối năm 2025, lãi suất huy động có nhích lên, nhưng lãi suất cho vay cũng chưa thay đổi. Việc giảm lãi suất cho vay hoặc duy trì mức lãi suất hợp lý sẽ được điều chỉnh theo từng ngành.

Liên quan đến định hướng điều hành lãi suất tại một số ngân hàng, bà Nguyễn Thị Lệ Mai - Phó trưởng Phòng Quản lý cân đối vốn Khối Tài chính VietinBank cho biết, với định hướng xuyên suốt của Chính phủ trong việc ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng, VietinBank cố gắng duy trì mặt bằng lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay phù hợp, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân mở rộng sản xuất kinh doanh.

"Trường hợp cần thiết, VietinBank có thể điều chỉnh lãi suất huy động ở mức phù hợp, có chọn lọc theo kỳ hạn và thời điểm, đảm bảo cân đối thanh khoản, đáp ứng nhu cầu tín dụng và vẫn đạt hiệu quả kinh doanh" - đại diện VietinBank nhấn mạnh.

Để kiểm soát chi phí vốn, VietinBank tập trung tăng CASA và các nguồn vốn chi phí thấp, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ; đồng thời, tối ưu cơ cấu kỳ hạn và quản trị thanh khoản chủ động, nhằm hạn chế phụ thuộc vào các nguồn vốn chi phí cao.

Về phía MB, bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Giám đốc Tài chính MB cho biết, mức lãi suất cho vay bình quân sẽ duy trì như bình quân quý IV/2025, tuy nhiên, năm 2026 sẽ có sự phân hóa khá mạnh giữa các ngành, lĩnh vực. Các hoạt động có rủi ro cao, hoặc thuộc lĩnh vực hạn chế theo định hướng của Chính phủ sẽ có mức lãi suất cao hơn; trong khi các lĩnh vực tiêu dùng, sản xuất kinh doanh theo định hướng sẽ có lãi suất thấp hơn.

Về huy động vốn, để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tín dụng cao, ngân hàng cần cân đối nguồn vốn phù hợp với tốc độ tăng trưởng. Chi phí vốn (COF) dự kiến tăng 0,15 - 0,2% so với năm 2025. "Với mức lãi suất cho vay duy trì như quý IV/2025, NIM có thể giữ ở mức tương đương năm 2025" - đại diện MB nêu rõ.

Lãi suất đã tăng 100 - 150 điểm cơ bản, áp lực huy động vẫn kéo dài

Trong báo cáo triển vọng vĩ mô tháng 3/2026 mới phát hành, theo thống kê của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), có 3/26 ngân hàng được theo dõi tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi ở các kỳ hạn trên 6 tháng, với mức tăng từ 0,1 - 0,9 điểm phần trăm.

Dù mặt bằng lãi suất huy động của phần lớn ngân hàng trong năm 2025 đã tăng khoảng 100 - 150 điểm cơ bản, nhóm phân tích MBS cho rằng, áp lực huy động vốn vẫn sẽ tiếp diễn trong năm nay, đặc biệt khi nhu cầu vốn trung dài hạn cho các dự án đầu tư công và xây dựng hạ tầng gia tăng, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Cũng theo Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, đến cuối tháng 2/2026, tín dụng tăng mạnh ngay từ đầu năm, tăng 1,4% so với cuối năm 2025 và 20,2% so với cùng kỳ. Tín dụng tăng nhanh đã khiến lãi suất tiền gửi tăng khoảng 0,2 - 0,3 điểm phần trăm ở nhóm ngân hàng tư nhân.

"Lãi suất cho vay bình quân ở các ngân hàng thương mại trong nước cũng tăng 0,3 điểm phần trăm lên 7 - 9,3%. Đáng chú ý, lãi cho vay đối với lĩnh vực bất động sản tăng mạnh lên 12 - 14% với thời gian cố định lãi suất 12 - 14 tháng, một số trường hợp lên đến 15 - 16%, cho thấy xu hướng hạn chế dòng vốn vào lĩnh vực đầu cơ khá mạnh mẽ" - nhóm phân tích VNDIRECT nhận định.

Các động thái hỗ trợ thanh khoản của cơ quan điều hành có thể giúp hạ nhiệt lãi suất trong ngắn hạn, tuy nhiên, đây vẫn là các biện pháp mang tính tạm thời, đặc biệt trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu tiềm ẩn nhiều biến số khó lường liên quan đến rủi ro địa chính trị.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

(TBTCO) - Sáng 19/9/2026, tại Đền thờ danh sư Chu Văn An, Khu di tích quốc gia Phượng Hoàng, TP. Hải Phòng, Công đoàn Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trang trọng tổ chức Lễ vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm học 2025 - 2026.
KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

(TBTCO) - KienlongBank vừa ra mắt thẻ tín dụng cao cấp Visa Signature dành riêng cho giới tinh hoa. Với nhiều đặc quyền, phí chuyển đổi ngoại tệ thấp nhất thị trường và hoàn tiền không giới hạn, chiếc thẻ không chỉ giúp chủ thẻ quản lý chi tiêu mà còn khẳng định vị thế độc bản qua hệ sinh thái tiện ích đẳng cấp toàn cầu.
Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết 04 nhóm giải pháp với 53 nhiệm vụ được cụ thể hóa nhằm triển khai Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Trong đó, tăng cường thanh tra, giám sát, ngăn ngừa và xử lý vi phạm về sở hữu, chuyển nhượng cổ phiếu, gây rủi ro cho tổ chức tín dụng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 19/9, tỷ giá trung tâm lên 25.637 đồng, tăng 41 đồng trong tuần; tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do cũng đi lên. Chỉ số DXY tăng 1,1% lên 100,23 điểm sau tuần lễ chính sách tiền tệ đáng chú ý, với Fed và BoJ đều tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, còn BoE giữ nguyên.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,600 146,600
Hà Nội - PNJ 143,600 146,600
Đà Nẵng - PNJ 143,600 146,600
Miền Tây - PNJ 143,600 146,600
Tây Nguyên - PNJ 143,600 146,600
Đông Nam Bộ - PNJ 143,600 146,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 14,660
Miếng SJC Nghệ An 14,360 14,660
Miếng SJC Thái Bình 14,360 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 14,660
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,970 14,570
Trang sức 99.99 13,980 14,580
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 14,662
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 14,663
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 143,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 108,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 98,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 8,867
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 84,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 60,663
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cập nhật: 22/09/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17979 18253 18840
CAD 18003 18278 18897
CHF 31045 31423 32070
CNY 0 3842 3939
EUR 29200 29420 30503
GBP 33980 34370 35307
HKD 0 3184 3387
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14525 15115
SGD 19852 20134 20704
THB 698 762 815
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,252 29,275 30,661
JPY 160.8 161.09 170.82
GBP 34,163 34,255 35,442
AUD 18,176 18,242 18,931
CAD 18,191 18,249 18,923
CHF 31,306 31,403 32,331
SGD 19,972 20,034 20,818
CNY - 3,811 3,957
HKD 3,249 3,259 3,396
KRW 17.61 18.37 20
THB 746.77 755.99 808.96
NZD 14,510 14,645 15,084
SEK - 2,598 2,692
DKK - 3,923 4,062
NOK - 2,709 2,805
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,965.33 - 6,734.76
TWD 741.52 - 898.38
SAR - 6,808.55 7,171.81
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,309 29,427 30,627
GBP 34,205 34,342 35,368
HKD 3,248 3,261 3,378
CHF 31,091 31,216 32,159
JPY 161.83 162.48 170.46
AUD 18,193 18,266 18,860
SGD 20,036 20,116 20,706
THB 761 764 801
CAD 18,249 18,322 18,912
NZD 14,631 15,173
KRW 17.95 19.92
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26200
AUD 18173 18273 19204
CAD 18188 18288 19302
CHF 31291 31321 32903
CNY 3825 3850 3985.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29386 29416 31138
GBP 34288 34338 36096
HKD 0 3305 0
JPY 161.86 162.36 172.87
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14653 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20009 20139 20860
THB 0 727.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Cập nhật: 22/09/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30