VPBank - ngân hàng tư nhân khát vọng thịnh vượng

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) được Vietnam Report đánh giá là 1 trong 10 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam và là doanh nghiệp có thứ hạng cao trong danh sách Người nộp thuế lớn nhất năm 2019.
aa

VPBank

VPBank tiếp tục duy trì đà phát triển bền vững. Ảnh: T.L

Khát vọng mang lại sự thịnh vượng cho khách hàng cùng cổ đông; tạo thuận lợi cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân và đóng góp thiết thực xây dựng đất nước là mục tiêu mà VPBank đang theo đuổi.

Sau 17 năm hoạt động và phát triển, VPBank đã đổi tên theo Quyết định chấp thuận số 1815/QĐ-NHNN ngày 27/7/2010 của Ngân hàng Nhà nước. Tên viết tắt tiếng Anh của ngân hàng trong giao dịch vẫn được giữ nguyên là “VPBank”. Tuy nhiên, tên gọi đầy đủ được thay đổi thành Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh vượng (tiếng Anh là “Vietnam Prosperity Joint - Stock Commercial Bank”) – VPBank - thể hiện chiến lược trong giai đoạn phát triển mới tiếp theo.

Nhờ chuyển đổi thành công và luôn dẫn đầu về tăng trưởng, VPBank ngày càng lớn mạnh và thực sự bứt phá trong 10 năm trở lại đây. Những con số tăng trưởng còn ấn tượng và đáng tự hào hơn nữa nếu nhìn vào bức tranh 10 năm khi quy mô tổng thu nhập hoạt động tăng gấp gần 30 lần (thu nhập hoạt động từ 1.309 tỷ đồng năm 2010 đã đạt 39.033 tỷ đồng vào năm 2020), lợi nhuận trước thuế (PBT) tăng 20 lần lên 13.019 tỷ năm 2020. Tỷ lệ nợ xấu hợp nhất của VPBank được giữ dưới mức 3% theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước và tại ngân hàng riêng lẻ là 1,98%.

Năm 2020, đại dịch Covid 19 đã tàn phá sức khỏe của nhiều doanh nghiệp. Thế nhưng, nhờ linh hoạt ứng phó, VPBank vẫn hoàn thành được mục tiêu kinh doanh, vừa đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động vừa tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Đóng góp lớn vào Ngân sách Nhà nước

Theo kết quả xếp hạng của Tổng cục Thuế, trong danh sách 1.000 Người nộp thuế lớn nhất cả nước năm 2019 thì VPBank (công ty mẹ) được xếp thứ tự 18, đứng thứ 3 trong số các doanh nghiệp có vốn tư nhân. Trong khi đó, Công ty tài chính VPBank với thương hiệu FE Credit (công ty con của VPBank) cũng được xếp thứ tự 24 (đứng thứ 6 trong số doanh nghiệp có vốn tư nhân).

Chỉ tính trong vòng 5 năm qua, VPBank đã nộp thuế gần 12.000 tỷ đồng cho ngân sách, trong đó riêng ngân hàng mẹ nộp thuế gần 6.200 tỷ đồng. Nhờ kinh doanh hiệu quả, nhiều năm liền, ngân hàng này luôn nằm trong top các doanh nghiệp dẫn đầu về nộp ngân sách.

Có được kết quả này là nhờ vào sự kiên định theo chiến lược kinh doanh, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả vận hành và giảm thấp chi phí do ứng dụng số hóa, với 96% lượng giao dịch diễn ra qua kênh ngân hàng số và ngân hàng tự động…

Nâng cao chất lượng hoạt động và quản trị rủi ro

Là ngân hàng bán lẻ tập trung vào các phân khúc rủi ro hơn như tài chính tiêu dùng, vay tín chấp cá nhân (UPL) nhưng VPBank luôn chú trọng nâng cao chất lượng tài sản và đặt trọng tâm tăng trưởng chất lượng vào tất cả các mục tiêu kinh doanh.

vpbank
Đại diện VPBank nhận giải thưởng Quản trị rủi ro thanh khoản tốt nhất.

Năm 2019, Tạp chí The Asset, ấn phẩm uy tín hàng đầu về tài chính tại thị trường châu Á đã công bố VPBank là tổ chức phát hành trái phiếu nước ngoài tốt nhất châu Á và tổ chức Việt Nam đầu tiên phát hành thành công trái phiếu USD trên thị trường vốn quốc tế kể từ năm 2014, với 300 triệu đô la trái phiếu theo chương trình EMTN 1 tỷ đô.

Việc áp dụng toàn bộ tiêu chuẩn quản trị rủi ro Basal II cùng với triển khai áp dụng hệ thống chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế IFRS 9, tham gia thị trường theo EMTN thể hiện cam kết của VPBank trong tham gia sân chơi quốc tế, giúp ngân hàng linh hoạt, chủ động hơn trong huy động vốn cũng như nâng cao vị thế của VPBank trong cộng đồng nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Đẩy mạnh chuyển đổi số

Lộ trình chuyển đổi số của VPBank tạo ra hệ sinh thái dịch vụ tài chính thông qua nền tảng công nghệ và các đối tác phát triển. Thông qua việc gắn kết các hoạt động kinh doanh với trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn, đồng thời ứng dụng công nghệ vào nhiều lĩnh vực hoạt động, hàng loạt tác nghiệp tại VPBank hiện nay có thể triển khai hoàn toàn tự động mà không cần sự tham gia của con người.

Các chương trình số hóa của VPBank tạo ra sự thân thiện, kết nối tốt hơn với khách hàng và cũng mang lại nhiều cơ hội tiếp cận khách hàng mới. Với những nỗ lực, chủ động đó, VPBank đã được Tập đoàn Dữ liệu Quốc tế (IDG) đã lần thứ ba liên tiếp trao tặng giải thưởng ngân hàng chuyển đổi số tiêu biểu trong khuôn khổ Giải thưởng Ngân hàng Việt Nam tiêu biểu 2020 khi đứng đầu về đầu tư hạ tầng công nghệ; mức độ an toàn, an ninh; tốc độ tăng trưởng khách hàng, số lượng máy ATM/CDM, tổng số tiền giao dịch bình quân cũng như chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng…

Văn hóa doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội

Những năm gần đây, văn hóa doanh nghiệp được nhắc nhiều như một thứ “quyền lực mềm”, một trong những bí quyết quản trị doanh nghiệp quan trọng. Với VPBank, con người luôn là tài sản quý giá nhất, là yếu tố nền tảng đảm bảo thành công do vậy phát triển con người chính là chìa khóa để xây dựng và phát triển tổ chức. Trong những năm 2016 – 2017, VPBank vui mừng góp mặt trong top 5 những nơi làm việc hạnh phúc nhất tại Việt Nam.

Với chiến lược xây dựng VPBank thành một Miền đất nhân tài (Home of talents), các cơ hội đào tạo, lộ trình thăng tiến, kế hoạch kế nhiệm cho các vị trí lãnh đạo chủ chốt… luôn là những trọng điểm được Ủy ban nhân sự và Hội đồng quản trị VPBank chú trọng triển khai. Trong quá trình làm việc, người lao động của VPBank được hưởng các chế độ đãi ngộ, phúc lợi toàn diện như hệ thống lương, thưởng cạnh tranh với thị trường, chương trình “Vay gắn kết” ưu việt và gần đây là chương trình phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn dành cho cán bộ nhân viên (ESOP) với mục đích giữ chân nhân tài, ghi nhận các cấp cán bộ nhân viên có đóng góp lớn.

Bằng những nỗ lực không ngừng, VPBank dần từng bước khẳng định vị thế là nơi dừng chân của những cá nhân xuất sắc nhất trong ngành Ngân hàng Việt Nam.

Ngoài ra, trong 5 năm qua, VPBank đã tích cực tham gia các chương trình hỗ trợ an sinh xã hội tại nhiều địa phương trên khắp cả nước như xây dựng cầu đường, nhà ở cho các hộ nghèo, tài trợ quỹ khuyến học nhằm vun đắp những ước mơ cho thế hệ mai sau… với mức tổng đóng góp lên tới gần 36 tỷ đồng.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, VPBank đã tham gia đầy đủ và tích cực vào các hoạt động thiện nguyện, tài trợ cho hoạt động phòng chống dịch bệnh Covid-19 cũng như hỗ trợ các địa phương trong phòng, chống, khắc phục hậu quả của thiên tai, bão lũ.

Giai đoạn phát triển mới trong các nhiệm kỳ 5 năm, 10 năm tới đang mở ra nhiều thách thức và vận hội mới cho nền kinh tế, cho cộng đồng doanh nghiệp, trong đó có VPBank./.

Nguyễn Văn Phụng, Chuyên viên cao cấp, Vụ trưởng Quản lý thuế Doanh nghiệp lớn

Nguyễn Văn Phụng, Chuyên viên cao cấp, Vụ trưởng Quản lý thuế Doanh nghiệp lớn

Đọc thêm

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

(TBTCO) - VPBankS cho rằng, Thông tư 50/2026/TT-NHNN có lộ trình chuyển đổi linh hoạt hơn dự thảo trước đó. Việc bổ sung tỷ lệ LCR và NSFR sẽ khuyến khích các ngân hàng củng cố thanh khoản và sử dụng nguồn vốn ổn định hơn. Đáng chú ý, khi đồng thời duy trì LCR và NSFR từ 100%, ngân hàng không còn phải tuân thủ giới hạn LDR.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước ít biến động. Vàng miếng giữ giá bán 143,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giảm nhẹ tại Bảo Tín Minh Châu.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,300 ▼200K 143,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 140,300 ▼200K 143,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 140,300 ▼200K 143,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 140,300 ▼200K 143,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 140,300 ▼200K 143,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,300 ▼200K 143,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 14,350
NL 99.99 13,300 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▼50K
Trang sức 99.9 13,660 14,260
Trang sức 99.99 13,670 14,270
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 05/10/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17557 17830 18414
CAD 17718 17992 18609
CHF 30699 31075 31718
CNY 0 3836 3932
EUR 28500 28717 29797
GBP 33581 33969 34907
HKD 0 3182 3385
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14228 14816
SGD 19771 20052 20624
THB 687 750 803
USD (1,2) 25739 0 0
USD (5,10,20) 25778 0 0
USD (50,100) 25806 25820 26190
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,815 25,815 26,195
USD(1-2-5) 24,783 - -
USD(10-20) 24,783 - -
EUR 28,557 28,580 29,936
JPY 160.35 160.64 170.37
GBP 33,791 33,882 35,054
AUD 17,770 17,834 18,510
CAD 17,902 17,959 18,619
CHF 30,971 31,067 31,978
SGD 19,894 19,956 20,740
CNY - 3,804 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.84 18.6 20.24
THB 736.8 745.9 798.17
NZD 14,242 14,374 14,801
SEK - 2,544 2,634
DKK - 3,831 3,966
NOK - 2,657 2,753
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,944.37 - 6,709.49
TWD 739.25 - 895.07
SAR - 6,807.85 7,171.9
KWD - 82,065 87,324
AED - 6,823 7,353
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,696 28,811 30,022
GBP 33,799 33,935 34,967
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,835 30,959 31,908
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,744 17,815 18,412
SGD 19,963 20,043 20,638
THB 755 758 796
CAD 17,902 17,974 18,571
NZD 14,344 14,900
KRW 18.65 20.64
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25820 26180
AUD 17747 17847 18770
CAD 17901 18001 19012
CHF 30954 30984 32566
CNY 3818.2 3843.2 3978.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28683 28713 30446
GBP 33888 33938 35693
HKD 0 3315 0
JPY 161.12 161.62 172.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14343 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19931 20061 20782
THB 0 716.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,692 25,812 26,170
USD20 25,662 25,812 26,170
USD1 25,642 25,812 26,925
AUD 17,739 17,839 18,947
EUR 28,465 28,565 30,221
CAD 17,800 17,900 19,206
SGD 19,986 20,136 20,690
JPY 161.61 163.11 168.65
GBP 33,740 33,890 35,220
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 754 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/10/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30