Bảo hiểm Agribank giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái Agribank

Song An
(TBTCO) - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) và Công ty CP Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (Bảo hiểm Agribank) vừa tổ chức lễ ký kết hợp đồng tổng đại lý. Phát biểu tại lễ ký kết, ông Phạm Toàn Vượng - Tổng giám đốc Agribank khẳng định, Bảo hiểm Agribank giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái Agribank.
aa
Bảo hiểm Agribank giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái Agribank
Agribank và Bảo hiểm Agribank ký kết hợp đồng tổng đại lý.

Lãnh đạo Agribank cho rằng, thỏa thuận hợp tác giữa Agribank và Bảo hiểm Agribank nhằm cụ thể hóa những nội dung, chương trình đã, đang và sẽ hợp tác, hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy tối đa tiềm năng và thế mạnh của hệ sinh thái Agribank thông qua việc bảo vệ nguồn vốn, khách hàng.

Việc Bảo hiểm Agribank phát triển đúng với định hướng và mục tiêu thành lập, cung cấp các sản phẩm bảo hiểm qua kênh bancassurance đã hỗ trợ sự lưu thông của dòng vốn tín dụng, đặc biệt tại khu vực nông nghiệp - nông thôn, đảm bảo khả năng chi trả nợ vay, giảm nợ xấu. Bảo hiểm Agribank chính là công cụ quản trị rủi ro hữu hiệu và hiệu quả cho Agribank.

Với định hướng xuyên suốt thị trường mục tiêu của Bảo hiểm Agribank là lĩnh vực nông nghiệp và khu vực tam nông, trong đó yếu tố cốt lõi làm nên sự phát triển của Bảo hiểm Agribank là kênh phân phối Banca với các sản phẩm bảo hiểm phù hợp với nhu cầu của cả khách hàng và Agribank.

Tính đến 30/11/2023, Bảo hiểm Agribank cơ bản đã hoàn thành một số chỉ tiêu của đề án chiến lược 2021 - 2025, cụ thể như: Về bộ máy và phát triển mạng lưới: Công ty đã có 19 chi nhánh và 1 Ban trù bị thành lập chi nhánh (dự kiến hoạt động chính thức từ 1/1/2024), hoàn thành chỉ tiêu 20 chi nhánh theo đề án chiến lược.

Vốn điều lệ Bảo hiểm Agribank đạt 723 tỷ đồng vào 31/12/2023. Hoàn thành lộ trình tăng vốn lên 700 tỷ đồng theo đề án chiến lược. Chi trả cổ tức năm 2023: 51,34%/năm (41,34% chi trả cổ tức bằng cổ phần, 10% chi trả cổ tức bằng tiền mặt), hoàn thành chỉ tiêu cổ tức tối thiểu 14%/năm. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu: 11 tháng đầu năm 2023: ROE là 16%/năm, đạt chỉ tiêu ROE tối thiểu 15% theo đề án chiến lược.

Bảo hiểm Agribank đang thực hiện sắp xếp bộ máy tại trụ sở chính để chuẩn bị đầy đủ các điều kiện lập đề án nâng cấp mô hình lên tổng công ty trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Bảo hiểm Agribank cũng sẽ thực hiện lên sàn giao dịch chứng khoán vào thời điểm thích hợp trong giai đoạn 2021-2025.

Bảo hiểm Agribank giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái Agribank
Ảnh minh họa

Ông Nguyễn Tiến Hải - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Bảo hiểm Agribank cho biết, đến nay Agribank và Bảo hiểm Agribank đã từng bước phát triển và nhân rộng mô hình kênh phân phối, đưa Bảo hiểm Agribank khẳng định vị thế TOP 10 trên bản đồ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ với hơn 3 triệu lượt hộ nông dân và hàng chục nghìn doanh nghiệp, trong đó phần lớn là nông dân, ngư dân, diêm dân.

Đó cũng là lý do tại sao người dùng ví Bảo hiểm Agribank như một chiếc khiên vững chắc bởi Bảo hiểm Agribank luôn nhấn mạnh sứ mệnh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, luôn đồng hành và bảo vệ khách hàng trên mọi chặng đường.

Năm 2023, là một năm với những biến động lớn, khó khăn của nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng. Đặc biệt là cơn “khủng hoảng” về niềm tin khách hàng đối với thị trường bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ đã tác động không nhỏ và đặt ra nhiều thách thức đối với hoạt động của Bảo hiểm Agribank.

Tuy nhiên, với việc tận dụng ưu thế mạng lưới, bám sát hoạt động của Agribank, kênh bancassurance đã biến thách thức thành cơ hội, để từ đó khai thác tiềm năng dư nợ, đa dạng hóa sản phẩm, nỗ lực chuyển đổi số, tăng cường công tác truyền thông… để đẩy mạnh doanh thu kinh doanh. Đây cũng là năm đánh dấu những bước chuyển mình, những thay đổi của Bảo hiểm Agribank để thích ứng với mọi hoàn cảnh, hướng đến hoạt động hiệu quả, bền vững song hành cùng với hoạt động của Agribank.

Hợp đồng đại lý bảo hiểm tạo nên bước ngoặt quan trọng

Năm 2023, được sự nhất trí của Hội đồng thành viên Agribank, sự quan tâm chỉ đạo của Tổng giám đốc Agribank, hợp đồng đại lý bảo hiểm tập trung giữa Agribank và Bảo hiểm Agribank là một sự thay đổi rất lớn, tạo nên bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự hợp tác giữa Agribank và Bảo hiểm Agribank phát triển lên một tầm cao mới. Việc ký kết hợp đồng đại lý bảo hiểm lần này là nền tảng, điểm tựa vững chắc để Bảo hiểm Agribank vững niềm tin triển khai hoạt động kinh doanh bảo hiểm, khai thác tiềm năng to lớn của Agribank và xác lập vị thế mới trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.

Song An

Đọc thêm

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) ghi nhận đà tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.517,7 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Cùng với kết quả kinh doanh, MIC năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++ về năng lực tài chính và bbb về tín nhiệm nhà phát hành dài hạn, với triển vọng ổn định.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 02/08/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/08/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80